TÁC GIẢ
TÁC PHẨM




ANH ĐỘNG



. Tên thật Nguyễn Việt Tùng
. Sanh năm 1941 tại Vĩnh Thuận - Kiên Giang
. Hiên cư ngụ tại Thị Xã Kiên Giang
. Hội viên Hội Nhà Văn Việt Nam, Hội Văn nghệ Dân Gian Việt Nam

TÁC PHẨM ĐÃ XUẤT BẢN :

. Bác Ba Phi (tiểu thuyết)
. Bóng núi Tô Châu (tiểu thuyết)
. Xôn xao đồng nước (tiểu thuyết)
. Dệt chặng đường xuân
. Đường về Miệt Thứ (ca cổ).....








TIỂU THUYẾT


BÁC BA PHI - PHẦN I (1 & 2)

BÁC BA PHI - PHẦN I (3 & 5)

BÁC BA PHI - PHẦN I (6 & 7)

















































BÁC BA PHI


LỜI NGƯỜI VIẾT

Chuyện nguyên mẫu của bác Ba Phi chỉ nói về thiên nhiên giàu đẹp của xứ sở U Minh, nơi quê hương đang sống, nào rắn rùa, tôm cá, chim chuột tuyệt đối không có chuyện nào nói đến chiến tranh cả. Cuộc kháng chiến chống Mỹ mỗi lúc một ác liệt, chuyện bác Ba Phi mỗi lúc một phát triển đa dạng, lan truyền nhanh, nhân rộng theo những “kênh” đường dây giao liên, vận tải, theo đường hành quân, nơi ăn ở của bộ độ, cơ quan cách mạng. Cứ cái mô-típ gài cốt chuyện rồi tạo một thắt nút có kịch tính phóng đại nhảy vọt, mạnh ai nấy sáng tác rồi đổ thừa đó là truyện của bác Ba Phi. Có những “môn đồ” muốn thuyết phục người nghe còn thề bán mạng là chính mình ngồi giáp mặt bác Ba nghe kể chuyện vào trường hợp nào... nào đó, số môn đồ đó không loại trừ tôi.
Tôi nhớ không lầm, mãi cho đến những năm giặc bình định ác liệt, có nghĩa là vào đầu Việt Nam hóa chiến tranh, từ chiến trường 1C, tôi là người “đưa” bác Ba Phi tham gia vào chiến tranh.
Chiến trường ác liệt đến người ta tưởng tượng rờ đâu cũng đụng cái chết, gian khổ đến thân thể lính ta vào những mùa nước bị ghẻ lác loang lở từ “lỗ chiếu môn đến đỉnh ruồi”. Và đói khát, bệnh hoạn đến vàng da, rụng trọi tóc. Con người cần có tiếng cười như tim cần có máu. Phương tiện chiến tranh hiện đại của địch ở đây thường dùng áp đảo ta ngoài máy bay “cán gáo” còn pháo bầy, tàu binh các loại, trực thăng vận và xe lội nước. Để mượn bác Ba Phi giải tỏa bớt nỗi “ớn xương sống” các loại nầy ở lính ta, tôi nghiên cứu đưa bác ra hàng thế trận diệt chúng từ từ... Đến khi chấm dứt cuộc chiến tranh chống Mỹ, chuyện bác Ba Phi vẫn còn là văn học truyền khẩu, chưa thấy xuất hiện thành văn ở sách báo nào...
Có lần tôi thầm thì với bác Nguyễn Tuân về ý định muốn đưa chuyện truyền khẩu bác Ba Phi vào văn học. Bác Tuân khuyến khích ngay:

“Cậu mổ xẻ ông Ba Phi trên mảnh đất của cậu, bằng con dao của cậu rồi xào nấu với nguyên liệu riêng của cậu, nó sẽ trở thành một món đặc sản thích hợp khẩu vị bạn đọc hơn bất kỳ ai”...

- ANH ĐỘNG -




PHẦN I : MÙA KHÔ

6 - 7




6- TÔN TẪN VÀ TÔN YÊN ĐỜI NAY.


Nghe đánh “binh” một tiếng, thân hình bị nhảy dựng lên tựa trái banh, ông cháu bác Ba mới mở mắt ra. Bác bị ẹo xương sống, phải đưa tay đấm đấm mấy cái cho nó giãn gân. Bác thở khì một hơi dài. Bác Ba thấy mình được con rắn hổ mây hất văng ra khỏi mé rừng, rớt vào một con lung tại hậu đất nên cười ngất:
- Con rắn “thụt ô buýt” hai ông cháu mình một cái quá mạng.
Thằng Đậu cười theo:
- May là hai trái ô buýt này bị lép...
Bác Ba âu yếm vuốt đầu cháu nội:
- Phải “nổ” thì lão nội mầy tan xác như pháo cưới rồi.
Qua hai cuộc du hành vũ trụ khá gay go, bây giờ trong tay còn lại có một cây mác cán dài, bác Ba Phi đành lủi thủi dắt đứa cháu nội về nhà. Xóm của bác trong giặng vườn trước mặt kìa !
Còn thằng Đậu thì phải trải qua một ngày đi mây về gió khá vất vả, vừa mỏi nhừ thân thể, vừa đói bụng, nó theo sau ông nội mà cằn nhằn:
- Con rắn thật bủn xỉn, hà tiện chi không cho thêm một khối thuốc tống, để ông cháu mình bay tới nhà luôn, khỏi mắc công lội thêm một cánh đồng.
Nhưng nó chợt nghe ông nội phía trước kêu:
- Có con gì chết sao mà quạ bu đen ?
Thằng Đậu nhìn theo tay ông nội chỉ. Quả thật, chỗ bờ đìa trước mặt đang có một đàn quạ bay lên, hạ xuống trông tựa một cuộc đổ quân bằng máy bay trực thăng của lính nguỵ. Ông cháu bác Ba lần đến. Họ thấy lũ quạ cứ bu xuống lòng một khẩu đìa lạn. Vào mùa khô, nước đìa bày bùn lên. Bên dưới có một vật gì nằm lù lù đen sì.
- A, con trâu Pháo của mình, ông nội ơi !
Thằng Đậu sáng mắt, từ xa nó đã nhận ra con đực Pháo của nhà nó. Con trâu mấy bữa nay đi lạc, ông cháu nó tìm tở mở vẫn chưa ra. Bác Ba che tay xem lại một chút rồi mới nói:
- Cám ơn con rồng chở đi tìm trâu, lại được thêm con rắn đưa đường. Sẵn đây dẫn trâu về luôn. Ông cháu bác Ba Phi đến nơi. Họ thấy đàn quạ bu chung quanh con trâu như còn quyến luyến điều gì, chưa chịu bỏ đi. Thằng Đậu lấy làm lạ hỏi ông nội:
- Đời thuở giống sáo sậu mới đứng lưng trâu để bắt ruồi muỗi, đằng nầy giống quạ cũng đeo theo trâu là làm sao ?
Bác Ba không đáp, chạy đến mé đìa, nạt:
- Pháo, đi lên !
Tức thì bác thấy con trâu Pháo đang cắm đầu uống nước dưới đìa, bỗng cất đầu lên. Toàn thân con trâu rung giật, da lưng của nó xoi xói, guộng vồng. Rồi con đực Pháo nhảy mạnh một cái đã đứng hẳn lên bờ đìa. Và không ngoái nhìn lại chủ, cứ nhảy cẫng cẫng ra ruộng. Bác Ba Phi thấy con trâu hôm nay dở chứng, vội chạy theo nắm đuôi nó lôi lại. Nhưng khi bác vừa dở đuôi con trâu lên, bỗng có một con quạ từ trong lỗ đít trâu bay vọt ra. Bác Ba hồn bay phách lạc, té quị, la làng chói lói. Khi thằng Đậu chạy tới đỡ dậy, bác Ba dần dần bình tĩnh. Hai ông cháu đến nắm đuôi con đực Pháo dở lên xem lại coi chuyện gì. Lại một con quạ nữa cũng từ trong bụng trâu vọt ra theo đường “cửa sau” mà bay đi. Bây giờ họ mới hiểu: con đực Pháo đi lạc xuống đìa uống nước, chân trước đạp phải sợi dây vàm mũi, trâu gục đầu xuống bùn mà chết, rồi nó bị bầy quạ khoét đít chui vào bụng moi ruột gan mà ăn, nghe động, quạ bay ra.
Hiện giờ còn nguyên một bầy quạ trong bụng con trâu, chúng cứ vỗ cánh bay lung tung làm cho cái lốt con trâu phải lựng xựng. Lanh trí, bác Ba Phi quơ một nùi cỏ xảm vào lỗ đít con trâu để ém bầy quạ lại. Bầy quạ bi nhốt trong bụng trâu không có đường ra, cứ vỗ cánh bay lên, mang cái lốt con trâu theo. Ban đầu lốt con trâu còn nhảy nhót, chốc sau nó từ từ “cất cánh” bay lên. Rồi bốn chân trâu bắt đầu hổng mặt đất. thấy thế, bác Ba vội hối thằng Đậu:
- Leo lên cỡi trâu, nhờ lũ quạ đưa ông cháu mình về nhà luôn !
Thằng Đậu liền thót lên lưng trâu, ngồi phía trước. Bác Ba Phi cầm cây mác cán dài thót theo, ngồi sau. Bác Ba Phi với thằng Đậu được bầy quạ nâng lên theo với lốt con trâu. Và hai người cỡi trâu bay lừng lựng trên không trung.
Thế là chỉ trong vòng một ngày mà hai ông cháu bác Ba Phi liên tiếp thám hiểm không gian ba lần. Lần này họ bay chậm và thấp. Thấy con trâu bay không đúng đường về, bác Ba thò cây mác cán dài ra sau giả làm cây chèo để bẻ lái. Bác cứ kềm lái “gió” mà điều khiển cái lốt con trâu Pháo. Vừa kềm lái bác Ba vừa cười khà khà:
- Hai ông cháu mình cỡi trâu bay lên không như Tôn Tẫn với Tôn Yên thời Xuân Thu vậy.
Tuy không có đọc truyện Tàu nhưng chuyện nầy thằng Đậu cũng được nghe bà nội kể, cảm thấy cũng thú vị, nó phụ họa thêm:
- Hai chú cháu họ Tôn cưỡi trâu đánh giặc bằng gậy, vậy hai ông cháu mình cỡi trâu cầm mác rừng bay ra đồn Rạch Ráng đại chiến với bọn thằng đại úy Nhung chơi, ông nội ơi !
Bác Ba Phi é hơi, mắng thằng cháu:
- Nó khẹt cho một trái cà nông là cắm đầu thấy lão nội.
Hai ông cháu bác Ba mải nói chuyện lý quốc, tới chừng dòm lại thấy trâu đã mang họ về tới xóm. Nhìn nóc nhà của mình lấp ló sau mấy tàn cây xoài, bác Ba Phi định “lái” trâu đáp xuống chỗ khoảng đất trống. Nhưng bác “tóp máy” thế nào con trâu cũng cứ bay khơi khơi trên ngọn cây hoài. Bác Ba nghiên cứu giây lâu mới nghĩ ra một cách. Bác Ba với tay ra sau rút nùi cỏ xảm đít trâu. Những con quạ trong bụng trâu lần lượt bay ra. Một cặp rồi hai cặp. Bác Ba nhét nùi cỏ lại. Nhưng con trâu vẫn còn bay cao, chưa chịu “tóp ga” bao nhiêu. Bác Ba lại rút nùi cỏ ra lần nữa. Một cặp, hai cặp, ba cặp rồi năm cặp quạ bay ra. Bác Ba vội nhét nùi cỏ lại. Bây giờ con trâu mới chịu đảo những vòng thấp. Bác Ba lại rút nùi cỏ ra lần thứ ba. Qụa tiếp tục vọt ra từng cặp, kêu la inh ỏi. Bây giờ thằng Đậu trổ tài “phi công” một cách dũng cảm và tháo vát. Đậu cầm hai sừng trâu bẻ lái nghiêng qua ẹo lại điều khiển con trâu lượn thành những đường bay rất cao bồi. Khi chiếc “máy bay trâu” hạ thấp thì tay lái của thằng Đậu bẻ quẹo nhiều cua ngoắt ngoéo, luồn lách, tránh né những lùm cây cao đứng chắn đường bay rất tài tình. Ban đầu mồ hôi nó rịn ướt trán, lát sau ướt đẫm mặt, vô mắt cay sè. Thằng Đậu cứ bậm môi, nghiến răng điều khiển đường bay, nó vừa lái, vừa thở hổn hển :
- Xuống “ga” nữa ! Xuống “ga” chút nữa, ông nội !
Thằng cháu “phi công” cứ thúc bách ông “thợ máy” hoài, bác Ba Phi nóng giận rút luôn nùi cỏ trám đít trâu, ném bỏ. Tức thì hàng đàn quạ trong bụng trâu tuôn ra ào ào. Thằng Đậu hốt hoảng rụng rời tay chân, buông lơi tay lái làm đường bay của con trâu mỗi lúc một loạng choạng. “Trục trặc kỹ thuật rồi, sẽ có sự cố trên không !”.Thằng Đậu nghĩ thầm “Ông nội chơi ác, phen này hai ông cháu đành chịu đạp máy bay mà nhảy dù”. Bỗng con trâu đảo vèo qua đám dừa làm thằng Đậu giật mình chới với buông “tay lái”. Những thân câu dừa lão xám mốc bay liệt liệt qua ánh mắt thằng Đậu, nó tối tăm mày mặt. Đậu cắn răng, nhắm mắt. Con trâu không người lái cụng đầu vào một thân cây dừa đánh rầm !
- Trời ơi !
Bác Ba Phi thét lớn, ôm vội thằng cháu nội. Hai ông cháu văng tuốt xuống mương vườn bắn nước trắng dã.



7- Ở XỨ CÁ MÀ PHẢI ĂN TÔM.


Khi bác Ba dắt thằng Đậu vô nhà, bác gái nhìn hết muốn ra. Một ông già với một thằng nhỏ mình mẩy ướt loi ngoi, dáng đi lỏng thỏng như hai cái bóng ma. Ông gia thì bèo cám dính đầy râu, mặt mũi phờ phạc, mệt thở móp môi. Thằng nhỏ thì trầy xể mặt mày không còn thấy miếng da mẹ đẻ. Sau đó hai người dắt nhau đi tắm rửa, thay quần áo.
Nằm ngửa trên chiếc ghế trường kỷ thở dốc một hồi, bác Ba rủ thằng Đậu xách dao ra vườn chặt dừa tươi uống cho đỡ đói, trong lúc chờ bác gái thổi cơm.
Đi đến đầu xông nhà, bác Ba bảo thằng Đậu vác cây câu liêm theo để ngoéo dừa khô về xài. Vườn dừa bác Ba phải nói là nổi tiếng ở xứ Kinh Ngang nầy. Mỗi cái mương bề ngang sáu thước quăng đất lên thành cái bờ mười thước, trồng hai hàng dừa song song, hàng ngũ thẳng băng tựa sợi chỉ giăng. Bác có độ mười mẫu tây vườn trồng rặt ba loại cây dừa, xoài và cau. Vườn của bác Ba Phi tuy nhiều, cây cối trái sai oằn suốt năm, nhưng không thu hoạch được bao nhiêu. Bác làm vườn chủ yếu là để nuôi cá với làm cảnh chơi cho đẹp mắt.
Sau khi ông cháu bác Ba Phi móc dừa tươi uống nước rồi, họ chuyển qua móc dừa khô. Hai ông cháu đến một cây dừa cạnh đầu liếp có một quầy trái rám vỏ, sai oằn, trái lớn bằng chiếc nón sắt của tụi lính sư đoàn Hăm Mốt ngụy. Bác Ba cầm câu liêm, thằng Đậu cầm dao đứng hờm sẵn, chờ dừa rơi xuống lượm lấy, thẹo da cột lại từng cặp.
Bác Ba bảo:
- Dừa khô rớt là chụp liền, đừng để lăn xuống mương, bị cá lóc táp ăn hết.
Thằng Đậu lấy làm lạ:
- Xưa nay dừa “ăn” cá chớ cá gì ăn dừa, hở ông ?
- Không tin để rồi coi...
Bác Ba thọc móc vào cổ quày dừa, cố sức già giật quyết liệt. Những trái dừa khô rơi túa sua. Có một trái dừa bắn vèo qua đầu thằng Đậu, rơi xuống mương. Bỗng nhiên, Đậu nghe một tiếng “hực” rung rinh đất, tựa ai bỏ lựu đạn nổ ngầm trong lòng nước. Đậu nhìn kỹ xem, nó vụt la lên:
- Trông kìa, ông nội !
Nhìn theo tay thằng Đậu chỉ, bác Ba thấy dưới mương một vùng nước trào lên những cuộn vỏ dừa khô nát như bị ai vò. A ! - Thằng Đậu kêu lên vì nó đã hiểu rồi. Có một con trâu nước ở ngầm dưới đáy đớp dừa khô ăn, phun vỏ lên như vậy. Đậu hô:
- Ông nội đưa câu liêm con móc lỗ mũi trâu nước lôi lên trị tội.
- Trâu chó gì đâu, cá lóc đó mà !
Thằng Đậu cứ trơ mắt ra nhìn.
Bác Ba bảo tiếp:
- Mầy lấy một trái dừa khô ném tiếp xuống mương nữa xem !
Thằng Đậu làm y lời ông nội. Bỗng từ dưới nước có một con cá lóc trừng lên táp một cái bốp, rồi thản nhiên nằm lờ đờ trên nước mà nhai ăn, trông giòn rụm tựa người nhai cốm. Thằng Đậu rụt vai, le lưỡi, lắc đầu, đưa tay bụm háng.
- Có tin chưa ? Ông đã nói dừa của mình trồng để cho cá lóc ăn mà. Và ông thường nhắc mầy lội tắm đừng ở truồng, là vậy.
Nghe ông nội nói, thằng Đậu trực nhớ:
- Hèn gì lâu nay bà nội nấu cháo cá lóc khỏi vắt nước cốt dừa mà cháo cũng béo ngậy - Suy nghĩ một chút, Đậu tiếp: - Để con nhử cá lóc trừng lên, ông nội dùng câu liêm móc mang một con đem về nấu cháo tẩm bổ chơi !
Nói xong, thằng Đậu lượm một trái dừa khô, cầm tay. Bác Ba Phi hờm sẵn cây câu liêm, đứng chờ. Đậu ném trái dừa xuống mương. Trái dừa chưa rớt xuống tới mặt nước tức thì có một con các lóc kềnh từ dưới thót lên táp nghe một cái “bốp”. Lúc con cá còn phơi mình trên mặt nước rung đuôi, vươn vi nhai dừa một cách khoái trá, thì bác Ba nhanh tay xọc câu liêm móc mang nó.
- Chết mầy chưa ?
Bác Ba thét lên. Thằng Đậu nhảy tới tiếp ông nội kéo câu liêm dính cá lên. Con cá giãy đùng đùng làm nước văng trắng dã. Hai ông cháu bác Ba hè hụi mãi mà lôi không nổi con cá lóc lên bờ. Ngược lại con cá cứ lôi họ té sấp vào nhau. Bác Ba đứng trước, hai tay nắm chặt cán câu liêm, thằng Đậu phía sau, câu ngang eo ếch ông nội, ghị lại:
- Hai, ba. Nào... Dô ta !
- Hè, hai, ba... Nào ! Dô ta !
Hai ông cháu kéo con cá lóc tựa mấy anh bộ đội kéo pháo lên chiến trường Điện Biên Phủ. Bỗng con cá lóc quẫy đuôi một cái, phóng lên rồi cắm đầu xuống. Cái móc câu liêm bị hoác đơ. Ông cháu bác Ba Phi bị mất thăng bằng, té ngửa. Toàn thân bác Ba dằn lên bụng thằng Đậu một cái quá mạng ! Thằng Đậu lăn qua, ôm bụng rên rỉ:
- Ông nội chống cùi chỏ vô be sườn đau quá. Hư... hư...
Thấy cháu nội xếu mếu, bác Ba phủi bụi và xoa chỗ đau cho nó:
- Người thợ rừng U Minh phải có gan mật. Một khi rủi có bị heo nọc chảng đánh lòi ruột, người ta bứt lá môn gói lại, nhét vô lưng quần, lội về.
Thằng Đậu thấy ông nội cưng càng nhõng nhẽo:
- Con lớn lên hổng thèm làm thợ rừng đâu !
Nhưng rồi nó thấy bộ mặt của ông nội khốn khổ, vụt bật cười. Bác Ba cũng cười xòa theo. Bác vuốt đầu thằng Đậu ra vẻ âu yếm:
- Vô nhà lấy miệng chài ra, chài bậy mớ cá rô mề nấu canh chua!
Thằng Đậu chạy vô nhà vác miệng chài ra. Bác Ba bảo:
- Qua phía vườn xoài chài cá rô, cá rô cánh đó ăn rặt là xoài rụng, thịt chúng nấu canh chua khỏi dạo me.
Nghe nói thứ cá rô ăn xoài, thằng Đậu túm miệng chảy nước dãi.
- Ớn cá rô đó quá ! Ra vườn cau chài cá bổi vô chiên ăn còn sướng hơn.
Bác Ba lắc đầu:
- Cá bổi ngoài đó ăn toàn cau rụng, thịt chát ngầm.
Thằng Đậu ngơ ngác, hỏi lại:
- Sao bà nội cũng ăn trầu tối ngày mà thịt không chát ?
- Sao mầy biết không chát ?
- Con nghe bà nội kêu hoài nên biết.
- Bà nội kêu làm sao ?
Thằng Đậu ngó chừng ông nội, không chịu nói. Bác Ba hỏi dồn:
- Bà nội mầy kêu làm sao mà mầy biết thịt bả không chát ?
- Bà nội kêu: “Ui da ! Râu ông đâm mặt tui quá chừng”.
Bác Ba Phi xấu hổ, táng cho thằng cháu nội một bạt tai:
- Mồ tổ cha mầy !
Thằng Đậu cười hắc hắc, nhảy lùi, trật chân té ùm xuống mương. Nó nổi lên thở cái khì, vẫn còn cười. Đầu nó dính đầy bèo cám và bã sình.
Bác Ba vác miệng chài lên vai, bảo:
- Sẵn mình ướt, mầy chui xuống đập mò bắt mớ tôm, nướng trui nhậu ! - Rồi bác lầm bầm một mình - Cá lóc ăn béo thì bắt không được, cá rô ăn chua lại chê ê răng, cá bổi lại ăn chát ngầm như cau tầm vung. Khổ...
Thằng Đậu còn lặn ngụp dưới mương, nghe ông nội cằn nhằn tưởng là ông giận mình, liền trèo lên, bảo:
- Ông nội vô nhà lấy giỏ, con ra búng đập mò tôm ngay đây.
Bác Ba xách giỏ ra tới mặt đập thì thằng đậu đã nhảy ùm xuống nước. Bác ném cái bội xúc cá cho nó, bảo:
- Đội trùm lên đầu kẻo mò động ổ tôm, tôm búng đui mắt.
Thằng Đậu chê cái bội kình càng. Bác Ba lột chiếc khăn choàng tắm tiều đang bịt khấc trên đầu, vò viên ném xuống cho cháu:
- Không đội thì trùm khăn, kẻo nguy hiểm !
Thằng Đậu đội khăn choàng hầu, trùm hai mép phủ mặt, chỉ chừa một kẽ hở để nhìn.
Bắt đầu mò. Thằng Đậu khom người xuống búng đập, hai tay huơ vào ổ tôm. Bất thần từ dưới nước những con tôm càng động ổ hè nhau búng lên một cái rầm. Thằng Đậu bật ngửa kêu “ối” một tiếng thảm thiết !
Bác Ba vội nhảy xuống búng đập đỡ thằng cháu nội dậy. Cái đầu của thằng Đậu như một đống chà. Những con tôm càng ghim vô mắc gai ngoài chiếc khăn ngo ngoe lởm chởm trông tựa một cây san hô di động. Bác Ba è ạch bồng thằng Đậu lên bờ. Thằng Đậu cố phá ông nội chơi. Nó làm bộ ngất xỉu cho bác Ba ẵm lên bờ nặng nhọc, chớ có thương tích gì ! Cũng may có trùm chiếc khăn bảo hiểm, không thì cái mặt của nó rỗ nát như té úp vô thùng đinh rồi. Bác Ba lột chiếc khăn của thằng Đậu ném ra đất một cái “sào”. Thằng Đậu xô ông nội ra, ôm bụng nằm lăn, cười hắc hắc.
Sau đó hai ông cháu bác Ba lượm chiếc khăn, gỡ tôm bỏ vô giỏ, được hơn hai ký lô.



CÒN TIẾP....



ANH ĐỘNG

© CẤM ĐĂNG TẢI LẠI NẾU KHÔNG CÓ SỰ ĐỒNG Ý CỦA TÁC GIẢ


TRANG CHÍNH TRANG THƠ ĐOẢN THIÊN BIÊN DỊCH HỘI HỌA ÂM NHẠC