TÁC GIẢ
TÁC PHẨM




ANH ĐỘNG



. Tên thật Nguyễn Việt Tùng
. Sanh năm 1941 tại Vĩnh Thuận - Kiên Giang
. Hiên cư ngụ tại Thị Xã Kiên Giang
. Hội viên Hội Nhà Văn Việt Nam, Hội Văn nghệ Dân Gian Việt Nam

TÁC PHẨM ĐÃ XUẤT BẢN :

. Bác Ba Phi (tiểu thuyết)
. Bóng núi Tô Châu (tiểu thuyết)
. Xôn xao đồng nước (tiểu thuyết)
. Dệt chặng đường xuân
. Đường về Miệt Thứ (ca cổ).....








TIỂU THUYẾT


BÁC BA PHI - PHẦN I (1 & 2)

BÁC BA PHI - PHẦN I (3 & 5)

BÁC BA PHI - PHẦN I (6 & 7)

BÁC BA PHI - PHẦN II (8 & 9 & 10)

















































BÁC BA PHI


LỜI NGƯỜI VIẾT

Chuyện nguyên mẫu của bác Ba Phi chỉ nói về thiên nhiên giàu đẹp của xứ sở U Minh, nơi quê hương đang sống, nào rắn rùa, tôm cá, chim chuột tuyệt đối không có chuyện nào nói đến chiến tranh cả. Cuộc kháng chiến chống Mỹ mỗi lúc một ác liệt, chuyện bác Ba Phi mỗi lúc một phát triển đa dạng, lan truyền nhanh, nhân rộng theo những “kênh” đường dây giao liên, vận tải, theo đường hành quân, nơi ăn ở của bộ độ, cơ quan cách mạng. Cứ cái mô-típ gài cốt chuyện rồi tạo một thắt nút có kịch tính phóng đại nhảy vọt, mạnh ai nấy sáng tác rồi đổ thừa đó là truyện của bác Ba Phi. Có những “môn đồ” muốn thuyết phục người nghe còn thề bán mạng là chính mình ngồi giáp mặt bác Ba nghe kể chuyện vào trường hợp nào... nào đó, số môn đồ đó không loại trừ tôi.
Tôi nhớ không lầm, mãi cho đến những năm giặc bình định ác liệt, có nghĩa là vào đầu Việt Nam hóa chiến tranh, từ chiến trường 1C, tôi là người “đưa” bác Ba Phi tham gia vào chiến tranh.
Chiến trường ác liệt đến người ta tưởng tượng rờ đâu cũng đụng cái chết, gian khổ đến thân thể lính ta vào những mùa nước bị ghẻ lác loang lở từ “lỗ chiếu môn đến đỉnh ruồi”. Và đói khát, bệnh hoạn đến vàng da, rụng trọi tóc. Con người cần có tiếng cười như tim cần có máu. Phương tiện chiến tranh hiện đại của địch ở đây thường dùng áp đảo ta ngoài máy bay “cán gáo” còn pháo bầy, tàu binh các loại, trực thăng vận và xe lội nước. Để mượn bác Ba Phi giải tỏa bớt nỗi “ớn xương sống” các loại nầy ở lính ta, tôi nghiên cứu đưa bác ra hàng thế trận diệt chúng từ từ... Đến khi chấm dứt cuộc chiến tranh chống Mỹ, chuyện bác Ba Phi vẫn còn là văn học truyền khẩu, chưa thấy xuất hiện thành văn ở sách báo nào...
Có lần tôi thầm thì với bác Nguyễn Tuân về ý định muốn đưa chuyện truyền khẩu bác Ba Phi vào văn học. Bác Tuân khuyến khích ngay:

“Cậu mổ xẻ ông Ba Phi trên mảnh đất của cậu, bằng con dao của cậu rồi xào nấu với nguyên liệu riêng của cậu, nó sẽ trở thành một món đặc sản thích hợp khẩu vị bạn đọc hơn bất kỳ ai”...

- ANH ĐỘNG -




PHẦN II : MÙA RUỘNG

8 - 9 - 10




8- MỘT ĐÁM MÂY RÂM MÁT.

Sau những cuộc phiêu lưu không gian cực kỳ nguy hiểm, hai ông cháu bác Ba Phi không còn tổ chức đốt lửa bắt rùa hoặc đi sâu vào rừng U Minh săn bắt nữa. Mùa màng đã tới. Mưa đổ lai rai mấy đám ướt mặt đất đồng. Hai ông cháu chuyển sang lo việc mạ mộng.
Năm nay dọc theo rừng, những cụm tràm thoi thoi bị lửa cháy sạch, bày nhiều bãi đất trống như sân, mặt phủ đầy tro. Qua mấy trận mưa, tro trộn vào đất tạo thành những lớp da lợn béo dầy đến xâm xấp mắt cá chân. Những nơi nầy lúa giống ngâm lên ba càng một mộng, vãi xuống là hít ngay.
Vì vậy mà ông cháu bác Ba Phi quyết định gieo “gác” một đám mạ trên bãi tro trong hậu đất. Đã sống trên vùng đất nầy gần trọn cuộc đời, thời tiết, nắng mưa đã ngấm vào xương vào máu của bác Ba Phi. Cơ thể của bác đã trở thành cái “hàn thử biểu” dự báo được hiện tượng nắng mưa trước vài ba ngày. Lần nầy bác Ba Phi chắc ăn như ghịt, hồ hởi bảo thằng Đậu lúc hai ông cháu đội lúa giống ra đồng:
- Tin đi ! Đám mạ gieo gác trong vài ngày nay, nó sẽ trúng móp môi.
Nhưng thằng Đậu thì nghĩ theo kiểu của nó: Một đám mạ gieo gác cặp mé rừng U Minh, trước hết các loài chim nhỏ sẽ bu lại ăn lúa giống, chừng đó mặc sức mà đánh bẫy. Những con chim dòng dọc mình rằn xám, đầu đội mũ vàng óng, giống mấy thằng cha cò hiến bình ngụy ở chợ Cà Mau. Những con chim áo dà đội mũ đen, mặc áo nâu trông hiền lành tựa các vị ni cô. Những con chim manh manh trổ lông mã đỏ ối như đóa hoa vông có điểm nhiều hột gạo...
- Trời chuyển mưa sắp tới, ông nội chắc như vậy. Cái “đài thủy văn” đã báo động trong mình ông rêm từ khớp xương đây nầy.
Bác Ba Phi lên tiếng làm cắt ngang luồng xuy nghĩ về chim của thằng Đậu. Nó chuyển suy nghĩ qua ông nội: “Ông nội làm như con của ông trời vậy. Lúc nào ông bảo nhức đầu, sổ mũi thì sắp tới sẽ có một đợt nắng gắt. Lúc nào ông bảo rêm mình, nhức xương thì sẽ có mưa lai rai. Lúc nào sắp trở bấc thì ông bảo thắt lưng, nặng ngực... Lần nào cũng trúng bóc”.
Thằng Đậu cứ đội thúng lúa trên đầu, vừa đi vừa nghĩ:
- “Chiều nay thế nào cũng có một trận mưa. Giống sạ xuống bãi đất tro gặp mưa rào thì... hết sẩy. Phục tài ông nội quá ! Bây giờ đang mưa ở đâu mà trời cứ vần vũ hoài ? Tại sao có đám mây đen cứ che trên đầu làm mát một lõm tựa bóng cây dù vậy ?” - Thằng Đậu cứ nghe tiếng mây bay rì rào bên trên. Nó khoái chí hối ông nội đi nhanh. Càng đi thằng Đậu càng thấy như sức mạn tăng hơn, thúng lúa trên đầu dần dần nhẹ bớt ! Nổi hứng lên, thằng Dậu nhảy nhót, cất tiếng hát:

“Con chim nho nhỏ
Mỏ đỏ lông xanh
Đỏ mòng, xanh kiếng
Chim kêu nhiều tiếng
Nhiều tiếng lạ lùng
Kêu sao ? Kêu lại
Cho ta nghe cùng, hỡi chim...”


Đến nền đám mạ, ông cháu bác Ba để hai thúng lúa giống trên đầu xuống. Họ vụt bật ngửa ra, kêu lên một tiếng thất thanh:
- Ơi là trời !
Hai thúng lúa giống của hai ông cháu bác Ba Phi không còn một hột. Lúa không cánh mà bay đâu mất, thay vào đó là đầy vun hai thúng chim ! Lũ chim trong hai thúng bị chao động giật mình bay lên một cái rần. Ông cháu bác Ba Phi ngơ ngác nhìn theo. Trạc hà sa số là chim ! Chim kết thành dề bay mát một vùng trời, cất tiếng kêu ríu rít như tỏ lời cảm ơn người có tấm thạnh tình chiêu đãi chúng một trận no nê. Rồi sau đó “đám mây râm mát” trên bầu trời tan dần, nắng lại đổ gay gắt. Tất nhiên hai ông cháu bác Ba Phi đành trở về nhà đội hai thúng lúa giống khác.


9- ĐÀNH PHẢI GIEO MẠ NGẦM.

Lần này ông cháu bác Ba Phi nhứt định không cho lũ chim từ trên trời hạ xuống ăn hai thúng lúa giống nữa. Vừa đội thúng lúa đi họ vừa cầm nhánh cây huơ huơ bên trên để đuổi chim, bác Ba bực bội, cứ chửi lầm bầm:
- Mồ tổ cha tụi mầy, đầu ông đâu phải là cái sân chim mà cứ bu vào ?
Thấy ông nội giận ngang xương, thằng Đậu mắc tức cười. Nó nghĩ bụng: “Ông nội chẳng thường nói: “Lúa thóc tới đâu bồ câu tới đó”. Biết vậy mà còn khó tánh. Thằng Đậu nãy giờ đã liệng bỏ nhánh chà, nó cởi áo bịt kín miệng thúng, đội đi theo sau. Tính bác Ba luôn ở trần, có áo đâu mà làm theo, mà dù có áo thì bác Ba cũng để vắt vai chơi.
Lần này hai ông cháu bác Ba Phi đội hai thúng lúa giống tới nền đám mạ, nhờ có cách giữ gìn chu đáo nên chim chỉ ăn mất độ vài ba lít. Bác Ba bắt đầu xổi lúa giống ra cho bời rời để dễ vãi. Đang làm, bác nghe thằng Đậu gọi giật ngược:
- Cái áo con bị rách một lỗ tổ cha nè, ông nội !
Bác Ba quay lại:
- Đưa coi ! Bị cây chà quào hả ? Có trầy xể gì không ?
Thật ra chiếc áo của Thằng Đậu bị chim moi ăn lúa nên rách. Thằng Đậu đưa chiếc áo cho ông nội xem, nó quay mặt chỗ khác, bụm miệng cười sùng sục. Bác Ba ngớ ra, ném chiếc áo xuống đất, hỏi:
- Tại sao áo dính đầy cứt chim đây nè ?
Thằng Đậu thuật lại cách làm của nó cho ông nội nghe và kết luận:
- Chẳng thà làm vậy rồi giặt áo còn sướng hơn. Ai như ông nội sợ dơ áo phải mắc công gội đầu.
Thằng Đậu nói thật tình không có ý gì móc ngoéo ông nội. Nhưng bác Ba hiểu lầm, trợn tròn mắt, vớ lấy nhánh chà vung lên, quát:
- Mồ tổ ! Mầy nói đầu ông nội mầy là cái cầu tiêu của chim ỉa hả?
Thấy ông nội giận đùng đùng, thằng Đậu co giò phóng thụt mạng. Nó dẫm bừa lên những đống chà khô, đám cỏ gạo mà chạy. Càng chạy thằng Đậu càng nghe phía sau dội theo tiếng rốp rốp, rào rào, nó đinh ninh là ông nội đang đuổi nột. Đậu quẹo qua, đâm sầm vào một đám sậy cháy lưa thưa, lủi tuốt vào một lùm dây dác nằm chò co trong ấy để trốn. Nó ôm đầu thở hào hển, nghe trống ngực đánh dội lên tới hai màng tang, mắt nổ đom đóm, cổ đắng nghét.
Nằm một hồi hết mệt, Đậu định trở lại gieo giống tiếp ông nội. Nhưng khi nhóm lên định đi, nó chợt nghe có tiếng một con dế gáy đâu đây. Theo tiếng dế Đậu lần tới. Đúng rồi, chỗ gốc cây mục có nùi cỏ ủ kia. Thằng Đậu rón rén nhích tới từng bước...
Đang lom khom tìm chỗ con dế ẩn núp, thằng Đậu chợt nghe phía sau có tiếng động ồ ào. Nó ngỡ là ông nội đi tìm, liền khoát tay ra sau, lên tiếng:
- Để con bắt dế rồi con đi vãi mạ với ông nội.
Nhưng thằng Đậu không nghe tiếng ông nội đáp, ngoái đầu lại xem, cũng chẳng thấy ai, đám sậy sau lưng nó khi không lại rung rinh ào ào. Lạ quá! Trời đang đứng gió kia mà ? Rồi cả đám sậy phía bên nầy, phía bên kia và cả đám trước mặt nữa, cũng rung lên ! Cả rừng sậy đang ồn ào chuyển động. Thằng Đậu cố trấn tĩnh để xem kỹ là chuyện gì.
Bình tĩnh chớ sợ gì ? Thằng Đậu nhủ lòng, nó ráng ngồi lại. Trong tiếng động ồn ào lại phát ra tiếng chuột kêu tí tục vang rân. Chuột kéo đi đâu mà đông ghê gớm như vậy ? Hàng đàn hàng lũ xếp thành đội ngũ, tốp nhỏ đi trước, tốp lớn đi sau. Những con chuột cống nhum đen sì làm chỉ huy bước đi rập ràng, đánh nhịp “chít chóe, chít chóe”. Lại thêm lũ chuột già gù lưng đi sau chót, chúng vừa đi vừa thổi kèn khù khè, khù khẹt. Tất cả những “đội quân chuột” hướng thẳng về phía nền đám mạ của ông cháu thằng Đậu. Chuột tiến quân về phía đó để ăn thịt ông nội hay sao ? Thằng Đậu tự hỏi. Thuở đời nay cọp ăn thịt người chớ chuột nào có ăn thịt người bao giờ. Trừ khi xác người chết hoặc đang ngủ say chúng mới rình mà gặm nhấm tí chút thôi. Suy nghĩ một hồi thằng Đậu mới sực nhớ: “Đúng rồi ! Chuột đã đánh hơi có lúa giống đằng kia”.
Thằng Đậu ba chân bốn cẳng chạy bổ về chỗ ông nội đang vãi mạ để báo tin dữ. Đến nơi, Đậu mệt gần đứt hơi nhưng nó cũng ráng réo ông nội:
- Dừng tay lại, bớ ông nội !
Đằng ấy bác Ba Phi đang cặp nách chiếc thúng lúa và hốt giống vãi túa sua. Mắt ông sờ sệt, tai đã nghễnh ngãng rồi, có nghe thấy gì đâu. Nghĩ vậy, thằng Đậu bèn nhảy bổ tới giật tay ông nội, nó thét:
- Dừng lại, xem kìa!
Chừng ấy bác Ba Phi mới dừng tay lại móc túi lấy cây kiếng đeo lên mắt mà nhìn theo hướng tay thằng Đậu trỏ. Ôi thôi, giòng họ nhà chuột đã đứng xếp hàng đặc gật trên nền đám mạ tự bao giờ. Con nhỏ đứng trước, con lớn đứng sau đều trân tựa quân cờ xếp trong ô. Bác Ba vãi giống nãy giờ chỉ toi công. Không có một hột lúa rơi xuống tới mặt đất. Lũ chuột, con nào cũng với tư thế đứng hai chân, nhống người lên, một tay chắp sau đít, một tay đón bắt những hột lúa giống của bác Ba từ trên không. Những con chuột được mồi, cho vào miệng nhai nhóp nhép, trông mặt mày hớn hở. Tội cho những con chuột đứng xếp hàng phía sau, chưa tới lượt mình thì cụp râu, mặt mày buồn thiu...
Cả hai lần, ông cháu bác Ba quyết lòng gieo “gác” một đám mạ cho trúng móp môi nhưng đều bị chim và chuột phỗng tay trên. Thế là họ đành phải chuyển hướng, chờ mưa xuống ngập đồng sẽ gieo ngầm một đám mạ nữa cho mùa màng.


10- TÚP CHÒI QUAY.

Sẵn có tấm da con trâu bị quạ móc ăn thịt hôm nọ, ông cháu bác Ba Phi rọc ra làm pông- sô. Họ đốn một mớ cây cùng mang ra ruộng, để che một túp chòi ở giữ đám mạ. Bên cạnh nền đám mạ có một mô đất lớn, bác Ba dọn sạch cỏ, bảo thằng Đậu cắm cột. Xong buổi sáng, chiều lại, ông cháu bác Ba căng tấm da trâu lên lợp chòi. Ở xứ U Minh nầy người ta lợp chòi bằng rơm, bằng tranh, hoặc bằng lá chầm chớ có ai chơi sang như vầy. Thấy mình được ở chòi da thú, thằng Đậu hí hửng, ra vẻ tự hào:
- Ông cháu mình không thua dân Mông Cổ, hén ông nội !
Bác Ba lắc đầu:
- Du mục Mông Cổ người ta ở chòi biết đi, mình làm sao bằng ?
Thằng Đậu còn ức:
- Rồi đây con sẽ nghiên cứu cách cất chòi biết đi như họ cho nội coi.
Bác Ba Phi không tin, bảo Đậu ra ruộng làm nền đám mạ với bác. Trải qua hơn mười ngày, ông cháu bác Ba trèo trẹo vào việc làm đám mạ ngầm. Bước đầu phải be bờ “cơm nếp” bốn phía để chứa nước mưa và khi cần thiết cũng để tháo nước ra hoặc tát nước cho mạ. Làm nền xong, chờ hột lúa lên đủ ba càng, một mọng, thằng Đậu đi chặt cây sậy cắm thành từng hàng rò phân lối. Bác Ba xởi lúa giống để vãi. Giống vãi được một đêm, khi nước trong đám mạ lóng cặn đè phớt một lớp bùn trên hột lúa, họ mới xả nước ra còn độ xâm xấp mắt cá chân, giữ như vậy đúng ba hôm cho mầm giống lúa không bị ngộp nước, sau đó mới tát nước châm từ từ thêm vào.
Ban ngày làm đầu tắt mặt tối, ban đêm hai ông cháu bác Ba vô chòi nằm trên bộ vạt tre, kẻ ngủ, người thay canh, giựt sợi dây nối ra nhiều cái thùng thiếc cắm chung quanh đám mạ mà đuổi chim. Nào bòng bòng, vịt nước, le le kéo tới đáp xuống mò lúa giống rần rần. Giống chim này chờ trời vừa chạng vạng là từ các nơi bay đến, áp vô. Ông cháu bác Ba cứ mắt nhắm mắt mở, miệng la hơi hà, tay giật dây, cho những cái thùng ngoài kia khua lèng sèng sáng đêm. Nhờ vậy mà đám mạ của họ mỗi ngày một vươn lên như xúc giá đậu xanh, công việc canh giữ ngày một đỡ vất vả hơn.
Một buổi sáng, khi ngủ giật mình thức dậy, bác Ba Phi giật giọng gọi thằng Đậu:
- Này ! Dậy con ! Tại sao cái chòi của mình bữa nay quay mặt về phía mặt trời mọc ?
Thằng Đậu ngồi dậy dụi mắt xem:
- Hôm qua chòi của mình ở góc đám mạ bên kia, sao bữa nay ai khiêng đem đặt qua góc bên này ?
Bác Ba Phi không tin có điều kỳ lạ đó, móc túi lấy cây kiếng soi ra đeo lên mắt, xem kỹ. Bác vỗ tay lên trán à à mấy tiếng như cố nhớ ra điều gì, nhưng không nói thêm. Trong lúc thằng Đậu còn băn khoăn cái chuyện lạ đời nầy, bác Ba cứ tỉnh bơ ngồi vấn thuốc hút phun khói phì phèo.
Hút chưa tàn điếu thuốc, bác Ba chợt nghe bên mang tai mình nong nóng. Bác tự nghĩ: “Có lẽ nào mặt trời mới đó lại quay qua hông chòi ?”. Nhưng đến khi vấn điếu thuốc khác chưa kịp hút, bác Ba lại nghe hơi nóng ran phía sau lưng.
- Quái lạ ! Tại sao mặt trời cứ chạy vòng quanh cái chòi của mình như vậy, ông nội.
Thằng Đậu kêu hoảng lên, nhưng bác Ba trấn an cháu:
- Để bình tĩnh nghiên cứu, đừng la vội.
Hai ông cháu ngồi im trên bộ vạt tre cùng nhìn chăm chăm vào mặt trời buổi sáng đang chiếu ánh nắng vào chòi. Rõ ràng là mặt trời dường như sợ ông cháu bác Ba, nó cứ chầm chậm quay vòng quanh chòi, và ông cháu cứ quay người nhìn theo nó. Đang lúc bán tính bán nghi chưa hiểu là tại sao, thằng Đậu bỗng thét lên lần nữa:
- Cái đám mạ cũng chạy quay vòng quanh chòi nữa kìa, ông nội !
Bỏ mặt trời, bác Ba nhìn qua đám mạ. Thật là một cảnh tượng vô cùng khủng khiếp ! Cả mặt trời cùng đám mạ thi nhau chạy quanh cái chòi da trâu của ông cháu bác Ba. Bác Ba hoang mang vô cùng, chụp lấy cây búa để cạnh đầu vạt, nắm tay thằng Đậu lôi nhanh ra ruộng. Bác Ba vừa chạy vừa thét:
- Cả trời, cả đất cũng giỡn mặt ông cháu tôi, hãy xem đây !
Bác vung búa như định chém vào một vật nào đó, nhưng bị thằng Đậu nắm tay ghì xuống, trỏ vào túp chòi da trâu, bảo:
- Ông nội, hãy xem kia kìa !
Bác Ba Phi đưa tay sửa lại cây kiếng trên mắt, nhìn chăm vào túp chòi. Tại sao túp chòi biết cử động ? Túp chòi cứ loay hoay xê dịch hết hướng này sang hướng khác, cửa chòi cũng quay tròn theo. Không còn kềm chế được nữa, bác Ba xông tới định chém cho túp chòi một búa rồi ra sao thì ra. Nhưng vừa đến nơi bác vụt chựng lại, và kêu lên:
- À, té ra là vậy !...
Trong khi bác Ba thở ra một cái khì thì thằng Đậu vỗ tay reo cười ngặt nghẽo:
- Lâu nay ông cháu mình cất túp chòi trên cái mu con rùa. Con rùa cứ bò loay hoay làm cho túp chòi quay theo, chớ mặt trời với đám mạ nào biết quay bao giờ ?
Bác Ba cười ngả nghiêng theo thằng cháu...



CÒN TIẾP....



ANH ĐỘNG

© CẤM ĐĂNG TẢI LẠI NẾU KHÔNG CÓ SỰ ĐỒNG Ý CỦA TÁC GIẢ


TRANG CHÍNH TRANG THƠ ĐOẢN THIÊN BIÊN DỊCH HỘI HỌA ÂM NHẠC