TÁC GIẢ
TÁC PHẨM




ANH ĐỘNG



. Tên thật Nguyễn Việt Tùng
. Sanh năm 1941 tại Vĩnh Thuận - Kiên Giang
. Hiên cư ngụ tại Thị Xã Kiên Giang
. Hội viên Hội Nhà Văn Việt Nam, Hội Văn nghệ Dân Gian Việt Nam

TÁC PHẨM ĐÃ XUẤT BẢN :

. Bác Ba Phi (tiểu thuyết)
. Bóng núi Tô Châu (tiểu thuyết)
. Xôn xao đồng nước (tiểu thuyết)
. Dệt chặng đường xuân
. Đường về Miệt Thứ (ca cổ).....








TIỂU THUYẾT


BÁC BA PHI - PHẦN I (1 & 2)

BÁC BA PHI - PHẦN I (3 & 5)

BÁC BA PHI - PHẦN I (6 & 7)

BÁC BA PHI - PHẦN II (8 & 9 & 10)

BÁC BA PHI - PHẦN II (11 & 12 & 13 & 14)

















































BÁC BA PHI


LỜI NGƯỜI VIẾT

Chuyện nguyên mẫu của bác Ba Phi chỉ nói về thiên nhiên giàu đẹp của xứ sở U Minh, nơi quê hương đang sống, nào rắn rùa, tôm cá, chim chuột tuyệt đối không có chuyện nào nói đến chiến tranh cả. Cuộc kháng chiến chống Mỹ mỗi lúc một ác liệt, chuyện bác Ba Phi mỗi lúc một phát triển đa dạng, lan truyền nhanh, nhân rộng theo những “kênh” đường dây giao liên, vận tải, theo đường hành quân, nơi ăn ở của bộ độ, cơ quan cách mạng. Cứ cái mô-típ gài cốt chuyện rồi tạo một thắt nút có kịch tính phóng đại nhảy vọt, mạnh ai nấy sáng tác rồi đổ thừa đó là truyện của bác Ba Phi. Có những “môn đồ” muốn thuyết phục người nghe còn thề bán mạng là chính mình ngồi giáp mặt bác Ba nghe kể chuyện vào trường hợp nào... nào đó, số môn đồ đó không loại trừ tôi.
Tôi nhớ không lầm, mãi cho đến những năm giặc bình định ác liệt, có nghĩa là vào đầu Việt Nam hóa chiến tranh, từ chiến trường 1C, tôi là người “đưa” bác Ba Phi tham gia vào chiến tranh.
Chiến trường ác liệt đến người ta tưởng tượng rờ đâu cũng đụng cái chết, gian khổ đến thân thể lính ta vào những mùa nước bị ghẻ lác loang lở từ “lỗ chiếu môn đến đỉnh ruồi”. Và đói khát, bệnh hoạn đến vàng da, rụng trọi tóc. Con người cần có tiếng cười như tim cần có máu. Phương tiện chiến tranh hiện đại của địch ở đây thường dùng áp đảo ta ngoài máy bay “cán gáo” còn pháo bầy, tàu binh các loại, trực thăng vận và xe lội nước. Để mượn bác Ba Phi giải tỏa bớt nỗi “ớn xương sống” các loại nầy ở lính ta, tôi nghiên cứu đưa bác ra hàng thế trận diệt chúng từ từ... Đến khi chấm dứt cuộc chiến tranh chống Mỹ, chuyện bác Ba Phi vẫn còn là văn học truyền khẩu, chưa thấy xuất hiện thành văn ở sách báo nào...
Có lần tôi thầm thì với bác Nguyễn Tuân về ý định muốn đưa chuyện truyền khẩu bác Ba Phi vào văn học. Bác Tuân khuyến khích ngay:

“Cậu mổ xẻ ông Ba Phi trên mảnh đất của cậu, bằng con dao của cậu rồi xào nấu với nguyên liệu riêng của cậu, nó sẽ trở thành một món đặc sản thích hợp khẩu vị bạn đọc hơn bất kỳ ai”...

- ANH ĐỘNG -




PHẦN II : MÙA RUỘNG

11 - 12 - 13 - 14




11- CẶP TRÂU KHÔNG SỪNG.

Rõ ràng là thằng Đậu nói có lý. Bây giờ nó khỏi cần phải nghiên cứu cách cất chòi biết đi như bên nước Mông Cổ, từ nay về sau cứ nhằm trên mu con rùa mà cất thì không thua họ điểm nào cả. Hai ông cháu bác Ba cứ ở trên “túp chòi quay” ấy mà canh chừng đám mạ đến hơn một tuần lễ, mới tính chuyện cày đất để vào vụ mùa.
Nhiệm vụ của thằng Đậu là đến canh tư thức dậy cột đôi trâu vào ách rồi leo lên lưng một con nào đó nằm ngủ, còn về sau, phần dắt đôi trâu ra ruộng, đánh trâu kéo cày là của ông nội nó.
Một đêm, khi chùm sao cày gác lửng qua phía đầu rừng, bác Ba kêu thằng Đậu dậy mở niệt dắt trâu ra gác ách. Cái tuổi ham ăn ham ngủ, thằng Đậu sật sừ cầm đèn xuống chuồng trâu. Cây đèn cóc bị gió thổi tắt, nó phải mò mẫm làm việc âm thầm trong bóng tối. Đêm tối sệt ngửa bàn tay không thấy, thằng Đậu cứ đi lạc từ chuồng trâu qua chuồng heo, rồi từ chuồng heo trở về chuồng trâu đến mấy quận. Cuối cùng nó mở được cửa chuồng và gác ách một cặp trâu.
Nãy giờ làm việc gác ách trâu trong bóng tối thật là khó khăn vô cùng ! Bầy trâu trong chuồng không biết can cớ gì mà sút hết dây niệt, chạy lung tung hoài. Cả dây mũi của chúng cũng đứt đâu mất. Để khắc phục, thằng Đậu cứ cột quang lên đầu mỗi con một sợi dây vàm. Cho nên khi nắm được hai sợi dây vàm trâu từ tay thằng Đậu, bác Ba không nghi ngờ gì, cứ dắt đưa ra ruộng. Trên đường đi, bác Ba dắt trâu, thằng Đậu đi theo sau. Hai ông cháu lầm lũi đi dưới bầu trời đêm tối như mực.
Bữa nay ông cháu bác Ba Phi đánh trâu cày vạt đất cỏ chỉ. Thằng Đậu cầm dây vàm đi trước dẫn đường, bác Ba Phi lái cây chuôi phía sau, cày kiểu phá lỏi. Hai ông cháu thả một vạt vòng nông rộng độ nửa mẫu tây. Cặp trâu xem mòi sung sức lạ ! Bác Ba nghĩ: “Chắc hôm qua thằng Đậu cho trâu ăn đầy cỏ, nên con nào cũng óc nóc cái hông. Thằng nhỏ trông lù khù vậy chớ làm việc gì cũng tới nơi tới chốn”. Bác Ba vừa đánh trâu cày vừa khen thầm cháu nội. Những đường cày đất vỡ lật ngược trong đêm, mùi đất mới tỏa ra một thứ hương thơm làn lạt. Bác Ba Phi cứ lầm lũi đi theo hai con trâu của mình, và bác tin rằng phía trước đang có đứa cháu nội dắt mũi. Bác lái chuôi đẩy vạch đất thành những luống thẳng tắp.
Có gì thú vị hơn người thợ cày điều khiển cặp trâu, kéo cày vào buổi trời sắp sáng. Tiếng rừng U Minh thức giấc cựa mình rì rầm. Khí trời đêm man mác lạnh, gay gay niềm cảm khoái. Con chim mỏ nhác đâu đó giật mình vỗ cánh bay vụt âm thầm,vài chiếc sao rụng tua tủa những vệt sáng trắng rồi tắt phụt trên nền trời yên ả. Cảnh vắng lặng, hữu tình. Bác Ba Phi thủ thỉ ngâm mấy câu ca dao bằng một giọng trầm ấm:

“Trâu ơi, ta bảo trâu này
Trâu ra ngoài ruộng trâu cày với ta...”


Gà trong xóm đã gáy rộ hiệp ba. Đằng đông có mấy vệt mây đòn xóc hiện lên đen ngòm trên bầu trời ửng nhạt. Cặp trâu của bác Ba bây giờ mỗi lúc một sút sức. Chúng đi ột ệt, bước ngắn bước dài, không còn hăng hái kéo cày như lúc mới ra đồng. Bác Ba cũng không biết tại sao ? Lúc ấy có một vật gì đánh rơi, văng xuống ruộng. Bác Ba giật sợi dây vàm, trâu hô:
- Pháo, Chim ! Dô...
Bác Ba huơ qua vài bận tìm gặp chiếc giàn thun của thằng Đậu. Có lẽ hồi chiều nầy thằng nhỏ đi nẹt chim đâu đó rối máng lên cần cổ, mang đi cày luôn. Bác Ba lượm chiếc nạng giàn thun bỏ vào túi áo, và bác gọi thằng Đậu. Qua ánh sáng hừng đông lờ mờ, bác Ba thấy nó đang nằm úp trên lưng một con trâu mà ngủ khò. Thấy thương nó quá, bác để cho nó nằm ngủ yên.
Tay trái bác Ba cầm cái chuôi cày, tay phải vung roi quất đánh đét vào mông một con trâu, hô:
- Ví vô Pháo !
Con trâu Pháo lồng lên, kéo chênh đầu ách bước tới ột ệt, đuôi nó nguấy nguấy. Qua ánh sáng bình minh, bác Ba thấy hai cái đuôi của cặp trâu sao cụt ngủn ? Chúng có mòi lười biếng không muốn bước. Bác Ba lại vung roi quất vào mông con trâu này, và hô:
- Thá ra, Chim !
Con trâu Chim cũng lồng lên một cái ột ệt, lại nguấy cái đuôi cụt ngủn. Hai con trâu vùng lên, bước tới chậm chạp. Chúng đã đuối sức dữ rồi. Tại sao hơi thở của chúng phát ra hồng hộc, chứ không phải phì phò như những cặp trâu thường ngày ?
Trời mỗi lúc một sáng, bác Ba Phi cứ vung roi quất vào mông trâu thúc chúng kéo cày. Bác quất vào con bên này, con trâu vọt lên kêu một tiếng “éc”. Bác quất vào mông con bên kia, con trâu cũng vùng lên kêu “éc, éc”. Bác Ba Phi quăng roi sững sờ đến mấy phút, và bật ngửa ra... Thôi rồi, thằng Đậu hồi hôm lợi dụng trời tối mà chơi trội ông nội nó ! Đậu gác ách vào cặp heo cho bác đánh ra ruộg cày, nó thì leo lên lưng heo nằm ngủ ngon lành.
Bác Ba Phi tức mình mở dây nài, dây ống cho cặp heo, thả chúng ra. Nhìn lại con heo vừa được thả ve vẩy hai tai, ngoắc đuôi ủi đất tìm thức ăn, bác Ba nổi dịch tống cho mỗi con một đá. Con heo đực đang chở thằng Đậu trên lưng nhảy lồng lên quăng thằng nhỏ té sải tay xuống ruộng. Hai con heo vừa tốc chạy vừa la éc éc. Thằng Đậu chưa rõ ất giáp gì, cứ dụi mắt ngơ ngác nhìn ông nội. Bác Ba chưa hết giận, trừng mắt quát:
- Ai bảo mầy gác ách cặp trâu không sừng làm lỡ dở buổi cày rồi?
Thằng Đậu thấy ông nội nổi giận, nó không biết chuyện gì vừa xảy ra, ba chân bốn cẳng phóng theo cặp heo chạy tuốt về nhà.


12- ƯƠM GIỐNG MẬN HỒNG ĐÀO VÀO THỊT NAI.

Quát mắng thằng cháu nội bác Ba cảm thấy cũng ân hận. Vừa đi bác vừa suy nghĩ: “Có thể vì đêm hôm tăm tối nó ba sớ ba sếch gác ách nhằm cặp heo thật, chớ không có ý chơi xỏ mình đâu. Heo nhà mình nuôi to quá cũng có thể lầm lẫn với trâu”. Bác Ba Phi cứ cúi đầu lầm lũi bước. Bác phải đến thăm đám mạ xem coi có loại gì quấy phá không. Mùa ruộng chỉ trông mong vào có đám mạ là phát súng lịnh xung phong cho mọi bước tiếp sau, mạ mà hỏng chỉ còn có nước bỏ mùa. Bác Ba Phi vừa đi vừa nghĩ hết chuyện này tới chuyện khác. Phía sau lưng mặt trời đã nhô lên khỏi rặng cây của đục vườn Đường Ranh. Nắng trải một lớp vàng bạc óng sánh xuống đồng cỏ.
Đến đám mạ, bác Ba ngớ người ra ! Cha nội nào chơi kỳ cục, đọt mạ xanh tốt lại đi lấy liềm cắt trụi tới cháng ba ? Bác Ba ức quá lẩm bẩm một mình, ước gì bắt gặp tên phá hoại bác sẽ dạy cho nó một mẻ nên thân. Thấy đám mạ bị hư hại chừng nào bác Ba càng giận run chừng nấy. Mẹ kiếp ! Cắt đọt mạ non còn quần nát đám mạ ra nữa, trên đời nầy có trò chơi nào mọi rợ hơn không ? Có chỗ mạ non, chẳng những bị cắt mà còn bị nhổ lên đứt củ hũ bỏ rơi trắng dã. Bác Ba Phi vuốt ve những chỗ mạ bị lướt và cầm mớ mạ bị nhổ lên xem. Thế này là thế nào ? Đôi mắt bác Ba chớp chớp ra vẻ suy đoán. Chốc sau bác gật đầu và thở khì một hơi dài. Đôi vai bác từ từ cụp xuống. Mẹ kiếp ! Cái bầy nai nầy thừa lúc bác mắc bận việc cày dở, ban đêm biệt kích đến phá hoại đám mạ của bác. Nhất định bác phải tìm cách trừng trị chúng một cú thật đích đáng !
Rời đám mạ, bác Ba đi lòng vòng một hồi đến cây mận hồng đào mọc ngoài mé rừng, ngồi nghỉ. Có một vật gì cồm cộm trong túi áo ? Bác Ba sờ thử. À, chiếc nạng giàn thun của thằng Đậu bác còn cất đây. Nạng giàn thun làm được gì với bầy nai nầy chớ ? Phải nghĩ ra cách nào chừng trị bầy nai phá đám mạ nầy. Những dấu hỏi lớn bằng lưỡi liềm cứ bỏ ngoắt ngoéo vào đầu bác Ba mỗi lúc một đậm. Đau đầu quá, bác ngẩng lên nhìn trời để tìm ra mưu kế. Nhưng trên trời cũng vẫn trống trơn, mây xanh lơ, nắng sáng bạc. Từng bầy chim giăng sen, cò quắm căng cánh bay qua, bay qua. Những chùm trái mận hồng đào chín mọng treo lơ lửng. Bác với tay hái mấy trái mận thật chín, bẻ đôi mà nhấm nháp. Mận ở xứ U Minh nầy tuy sai trái nhưng lạc nhách chẳng ra gì. Trên cành cây có mấy con chim vít cô nhảy hót líu lo. Cái mưu kế trừng trị nai ăn mạ của bác Ba chìm dần theo tiếng hót và cứ khép hẹp lại theo hai bờ mi của đôi mắt...
Trong cơn mơ màng, bác Ba vụt giật mình tỉnh dậy. Đâu đây có tiếng ai kêu nghe thảm thiết quá ! Dường như là tiếng kêu “má” thì phải. Mà lại nghe giọng trẻ con nữa. Bác Ba ngơ ngác nhìn quanh. Tiếng kêu từ trong lùm kia cất lên. Tiếng nai kêu ! Con nai nầy không phải kêu bằng ngôn ngữ thông thường của dòng họ nai. Nó kêu có ẩn ý, có tính chất báo hiệu một điều gì. Rõ là nó đang đánh tín hiệu cho nhau. Nhìn chăm vào lùm phát ra tiếng kêu, bác Ba thấy có hai vì sao sáng xanh, nhỏ xíu đang chiếu thẳng về phía bác. Con nai đang nhìn trộm bác. Chỗ Bác Ba ngồi đến chỗ con nai cách chưa đầy mười mét. Bác Ba Phi biết con nai nầy muốn hành động việc gì rồi. Nó trinh sát thực địa để dẫn đồng bọn đến ăn đám mạ non của bác, có lẽ tới đây đánh hơi thấy có người, nên dừng lại phát tín hiệu báo động cho lũ đi sau. Cho mày trinh sát nghe ! Bác Ba mắm môi, sẵn còn cầm hột mận trong tay bác lắp vào giàn thun, giương lên nẹt một phát vào ngay tam tinh con nai trinh sát. Bị một vố bất ngờ, con nai lãnh đủ, nó lồng lên la hét om sòm. Viên đạn bằng hột mận của bác Ba xuyên thủng lớp da mặt nai và mắc kẹt luôn bên trong. Lúc con nai quay đầu chạy, bác Ba nhanh tay lắp thêm hột mận nữa nẹt với theo. Hột mận thứ hai cũng xuyên thủng lớp da mông con nai và mắc kẹt vào trong. Bác Ba Phi đứng lên phủi tay và thét theo:
- Mẹ tổ mầy, cho trinh sát nghen ! Tao ươm hột mận hồng đào vào người mầy cho nhớ đời.


13- CÓ BẦY NAI KHÔNG BAO GIỜ KÊU.

trên đường về nhà, bác Ba Phi cứ suy nghĩ nát óc để tìm cách trừng trị bầy nai phá đám mạ, vẫn chưa ra kế. Chiều hôm ấy bác cứ nằm gác tay qua trán trăn trở hoài và lặng thinh không chịu nói năng gì tới thằng Đậu. Thằng Đậu rất băn khoăn, nó đinh ninh là hồi hôm mình gác ách nhằm cặp heo cho ông nội đi cày, nên bị ông nội giận dai vậy.
- Con lỡ vô ý, ông nội đừng giận nữa - Thằng Đậu thủ thỉ với ông - Ông nghĩ coi, ban đêm mập mờ, heo với trâu con nào cũng bằng nhau, dễ lầm lắm.
Thằng Đậu hiểu lầm về ông nội. Thấy thằng cháu băn khoăn, bác Ba ngồi dậy xoa đầu nó, cười xòa:
- Đầu óc ông đang tập trung nghĩ cách trị cho bầy nai không dám bén mảng đến ăn đám mạ của mình nữa.
- Chỉ có vậy thôi sao ? Thằng Đậu bật cười. Té ra từ sáng tới giờ ông nội nó nằm dàu dàu là chuyện ấy. Nó ngước mặt cười và trêu ông nội:
- Tưởng gì, chớ có vậy ! Muốn nai không ăn mạ được nữa thì cứ bắt mỗi con cắt bỏ một cái lưỡi, là êm ru.
Bác Ba bật cười ha hả:
- Phải chi bắt chúng được thì xẻ thịt bán lấy tiền, dại gì phải cắt lưỡi rồi thả đi ?
Nhưng tiếng cười của bác Ba bỗng im bặt. Thằng nhỏ nói giỡn vậy mà có lý. Vịn từ cái ý của nó bác Ba đã nghĩ ra một kế hay...
Sau bữa cơm, không nói không rằng, bác Ba mài cây mác vót thật bén, chặt trúc từng đoạn rồi chẻ cật trúc ra, tước xéo cho mảnh trúc bén tựa lưỡi lam. Vừa làm bác Ba vừa lẩm bẩm một mình: “Cho tụi mầy sống trên đời mà không cất tiếng kêu được gì”. Thấy ông nội cứ làm thinh hoài, thằng Đậu cầm một mảnh trúc đưa lên:
- Đố ông nội dám cắn mảnh trúc này vào miệng, kéo mạnh ra một cái.
Bác Ba nghe ghê răng, rụt cổ, rùng mình, vội buông cây mác, đưa tay bụm hai hàm lợi:
- Cái thằng, nói nghe ê răng thấy mồ.
Làm xong, ông cháu bác Ba dùng chiếc bao bố quấn mảnh trúc, vác ra đồng.
Đến đám mạ, bác Ba bảo:
- Mầy ngồi đây để ông “khoáng bùa” trị ba con nai nầy.
Bác Ba ôm bó trúc lội vô đám mạ cắm rải rác đều khắp. Bác cắm thật chắc xuống đất, chỉ để đầu bén của mảnh trúc lấp ló ngang tầm đọt mạ. Làm xong xuôi đâu đó, hai ông cháu dắt nhau về nhà.
Đêm ấy thằng Đậu thức đến hết canh ba mà vẫn trăn trở hoài. Nó luôn nghĩ về một công việc huyền bí của ông nội làm hồi chiều. Ông làm cái việc xem như trò chơi lại gọi là “khoáng bùa” ? Khoáng bùa gì không thấy dùng giấy quyến vẽ mực tàu vào ? Khoáng bùa sao không thấy ông nội thổi phì phèo, đọc thần chú lảm nhảm như các ông thầy pháp chữa bệnh ăn heo của nhà người đau ? Ông nội cầm từng mảnh trúc lội đi cắm êm ru, vậy mà cũng gọi là khoáng bùa ? Nó đã từng thấy người ta bảo khoáng bùa trị ma quỷ, ai đời ông nội lại đi khoáng bùa trị nai ăn mạ !... Và rồi những ý nghĩ lang bang của thằng Đậu chìm dần vào giấc ngủ...
- Dậy ! Dậy, Đậu ơi !
Hồi đầu hôm thao thức mãi nên thằng Đậu đánh một giấc tới mặt trời mọc xỏ lỗ tai. Dở mùng phóng xuống đất, đứng dụi mắt, thằng Đậu thấy ông nội sắp sẵn hai cái thúng. Thằng Đậu nhỏ, cầm cái thúng táo, bác Ba cầm cái thúng giạ, hai ông cháu hướng thẳng ra đám mạ.
Nắng buổi sáng chiếu vàng trong trẻo theo sau lưng. Thằng Đậu thấy cánh đồng ruộng ven rừng U Minh đẹp mắt làm sao ! Kìa, những cây tràm tàn dù đội nắng đứng nghiêng nghiêng. Kìa, rừng tràm bạt ngàn xống ngọn lên hứng nắng, trông cây nào cũng nhuốm màu vàng ruộm tựa một rừng san hô. Ngọn cỏ bắp thâm thấp, nhọn nhọn và trơn mát lướt lui dưới bước chân thằng Đậu. Mấy cây điên điển đồng giăng đầy màng nhện đọng trắng hơi sương lấp lánh.
Ông cháu bác Ba đã đi đến đám mạ. Bác còn ngồi khề khà trên bờ cơm nếp, hết vấn thuốc hút, lại se khăn bịt khấc quanh đầu. Thằng Đậu đang nôn nóng trong bụng mà ông nội cứ rề rà hoài, nó thấy phát nổi bực.
Hút thuốc xong, bác Ba Phi từ từ bước xuống đám mạ. Sau một hồi xem xét kỹ lưỡng. Bác Ba gật đầu như thỏa mãn một điều gì, bác bảo thằng Đậu bưng thúng đi theo từng hàng mảnh trúc bác cắm hôm qua.
- Nhìn kỹ nghe con ! Kẻo đá xước vào mảnh trúc bị nó rọc bàn chân chẻ làm hai đa.
Bác Ba men lại chỗ mảnh trúc cặm, lượm lên một vật gì, rồi ngoắc thằng Đậu lại:
- Nhẹ chân ! Đến đây !
- Cái gì vậy ? Ơ, một miếng thịt nai còn tươi rói.
Thằng Đậu kêu lên sửng sốt. Bác Ba giải thích cho cháu nội biết:
- Tìm chỗ mảnh trúc cắm là có một khúc lưỡi nai nằm ngay tại gốc, lượm bỏ vào thúng bưng về.
Thằng Đậu bây giờ mới hiểu được câu chuyện bí mật của ông nội. Có lạ lùng gì ! Mảnh trúc bén cắm lẫn trong mạ non, nai kéo vào ăn, huơ lưỡi cuốn mạ cuốn luôn mảnh trúc vào miệng, giật mạnh, thế là mảnh trúc cắt tiện một khúc lưỡi rơi lại.
Hai ông cháu tìm đủ một trăm tám mươi hai mảnh trúc cắm trong mạ, mò dưới gốc mảnh nào cũng có một cái lưỡi nai nằm lại tại chỗ. Ông cháu bác Ba lượm đầy hai thúng thịt lưỡi nai đội về.


14- TRỜI SANH XƯƠNG SỐNG HEO RỪNG NGAY ĐƠ NHƯ CÁN CUỐC.

- Sẵn đường ông cháu mình tạt qua thăm rẫy khoai, Đậu ạ !
Tuy đội thúng thịt nai nặng trịch, thằng Đậu vẫn đi theo ông nội. Hai ông cháu đi quẹo về hướng Lung Tràm. Ở đó bác Ba có cuốc mười công rẫy vừa khoai lang, vừa khoai môn, xuống giống hơn tháng nay, khoai lên rất tốt. Ông cháu bác Ba lội qua một con lung lầy rồi đến một vùng đất trấp mới khai phá. Đất mùn xốp, đen như than dày một lớp, chân bước cứ phập phều tựa đi trên tấm nệm muốt.
Đến mấy bụi khoai môn trồng ở đầu rẫy, thằng Đậu giật mình ngơ ngẩn. Nó để thúng thịt nai xuống, ngồi lại xem. Đậu cứ mê mẩn, nhìn những bụi khoai môn. Lá môn xanh lặc lìa có núm đỏ chính giữa, lá nào lá nấy ngắt thả ngửa xuống sông, cầm sào nhảy xuống chống qua được.
- Tổ mẹ ba con heo rừng...
Bác Ba Phi kêu lớn ở đằng kia làm thằng Đậu giật mình. Nó đội thúng thịt lưỡi nai nhảy phóng qua con mương óng, chạy rút đến ông nội. Theo tay bác Ba chỉ, thằng Đậu thấy đám rẫy khoai lang bị heo rừng ăn lâm nhâm đều khắp. Khoai mới xuống củ mắc mớ chi lũ heo cũng đến ủi phá ? Thằng Đậu nổi dóa, nó bảo ông nội:
- Mình cho bầy heo nầy không còn lưỡi để kêu như lũ nai kia đi, ông nội!
Bác Ba không phải ngây thơ như thằng cháu nội. Loài heo rừng không phải dùng lưỡi để cuốn thức ăn vào miệng như nai, chúng có đặc điểm khác. Heo rừng tìm thức ăn bằng cách đánh hơi đường mũi, dùng mỏ ủi bươi lên. Có khi con heo ủi đất tìm thức ăn, thân lút ngập, chỉ còn có cái đuôi ló lên. Bác Ba sắp đặt kế hoạch trong bụng, trừng trị lũ heo rừng này nhưng chưa nói ra với thằng Đậu...
Chiều hôm ấy nhà bác Ba Phi mở tiệc linh đình. Bác Ba mời bà con lối xóm đến nhậu chơi một bữa thịt lưỡi nai. Thói thường ở đời hễ rượu vào thì lời ra. Vào tiệc nhâm nhi mấy cốc, khách “dậy giặc” với nhau:
- Ông ba Phi chơi cái kiểu này thật là tàn ác, người ta có cái lưỡi để uốn éo chữa mình, lại thiến đi.
- Cuộc đời chỉ có cái lưỡi là đồ ăn hại nhất. Lưỡi hay khoác lác, lưỡi hay xu nịnh, lưỡi hay nạt nộ, lưỡi hay hăm dọa, lưỡi hay xuyên tạc sự thật. Chẳng thà cắt mẹ nó làm mồi nhậu sướng hơn.
- Đừng nói giỡn các cha. Có cái lưỡi nói dóc như ông chủ nhà đây cũng nổi tiếng cả nước, nào thua một nghệ sĩ lớn.
Cả đám vỗ tay cười rộ lên, làm bác Ba đỏ mặt. Bị chạm nọc, bác Ba thét lên giữa bàn tiệc:
- Đồ tốn rau, hao nước mắm ! Các người khỏi dạy đời.
Nói xong bác Ba bỏ đi xuống nhà bếp. Thấy bác gái còn thái thịt lưỡi nai xào lá cách, vắt nước cốt dừa để rội thêm cho khách nhậu, bác Ba hầm hầm bưng chảo thịt hắt xuống mương. Hai quai chảo bị lửa hun nóng quá làm những đầu ngón tay bác Ba sắp bỏng, bác vội bóp vào hai bên trái tai mình cho đỡ. Nào ngờ lọ nghẹ dính trên đầu ngón tay, bệt vào mặt bác nhiều kẻ sọc tèm lem. Cả nhà bác Ba, ai cũng bò lăn ra cười. Thấy mọi người cứ cười một cách vô duyên. Bác Ba Phi càng nổi dóa, quát:
- Thà đổ xuống mương nuôi cá có ích hơn để tụi bây ăn nhậu rồi ngạo đời.
Nhưng người ta vẫn không giận và cứ cười. Có người lại vỗ tay reo lên:
- Hoan hô ! Gánh hát chưa tới mà thằng hề đã tới.
Bác Ba Phi lớ ngớ không hiểu chuyện gì. Một người cất tiếng nói sang chuyện khác:
- Nói dóc mà được nổi tiếng không phải ai muốn nói cũng được. Đừng tự ái bỏ cuộc mà làm hư bột hư đường cái sự nghiệp lớn của mình, bác Ba ơi !
Bác Ba Phi chưng hửng, vụt bật cười theo:
- Ừ, ờ... vậy sao ?
Lúc ấy thằng Đậu cầm một tấm gương soi mặt, chạy tới đưa cho ông nội:
- Ông nội nhìn vô kiếng coi ai ở trỏng !
Bác Ba soi gương thấy mặt mày mình dính đầy lọ nghẹ, liền ném gương, cười chảy nước mắt.
Rửa mặt xong, ra giữa đám nhậu bác Ba Phi tuyên bố;
- Ngày mai mời bà con ăn tiếp thịt heo rừng giúp tôi với nghe ! Chia tiền mặt cũng được, chia lúa mùa cũng được. Tôi còn phải ra sông Đốc kêu lái vô chở đi tiêu thụ bớt.
Nghe bác Ba nói, khách khứa dòm nhau chưa ai tin là sự thật.
Khách về, bác Ba Phi lấy cây mác cán dài có ba khâu yếm ra ngồi mài cho tới tối. Vừa mài bác vừa đưa ngón tay trỏ lên cào cào qua mép lưỡi mác để thăm chừng độ bén. Chốc chốc bác vén ống quần lên, đưa lưỡi mác cạo một cái đứt ngọt một cuộn lông chân. Nhưng dường như cũng chưa đạt yêu cầu, bác Ba cứ mài cho đến khi để một sợi tóc nằm ngang trên lưỡi mác, thổi nhẹ là sợi tóc đứt làm hai, mới chịu thôi. Bác lấy giẻ lau khô lưỡi mác, rồi dùng dầu dừa thoa sương qua một lớp chống sét.
Đầu canh năm bác Ba Phi thức dậy, đâm một chén củ tỏi khuấy loãng rưới đều vào quần áo và xoa vào nách, vào cổ. Xong đâu đó bác bảo thằng Đậu cũng làm như vậy. Giống heo rừng thính mũi lắm, chỉ có xoa nước tỏi chúng mới không đánh được hơi người. Làm xong, bác Ba Phi cầm cây mác cán dài, thằng Đậu cắp cây giáo nhỏ xíu, hai ông cháu lội băng băng ra hướng đám rẫy khoai.
Đến nơi, hai ông cháu bác Ba tìm chỗ kín ngồi núp, để lắng nghe động tịnh. Hôm nay sao bốn bề lặng trang ? Có lẽ hồi sáng bác chỉ hăm he có mấy tiếng mà Thần Vòng báo động cho lũ heo trốn hết ? Bác Ba Phi không bao giờ tin dị đoan. Ở miệt rừng nầy, mười người thợ rừng đều tin chuyện hoang đường ấy hết tám. Họ bảo rằng heo rừng có cô hồn phò trợ nên chúng có linh tính lạ thường ! Thí dụ như trên một con đường heo tới lui nhẵn đất, bất ngờ có ai đến đặt bẫy hoặc ngồi rình để bắn, tức thì Thần Vòng báo cho chúng dạt ngay, đổ đường khác mà đi. Có người còn bảo vạn săn nào vào buổi xuất hành đầu năm, không có cúng tế Thần Vòng thì suốt mùa đừng mong bắt được một con heo. Thần Vòng là vong hồn của bà Thị Cư, một người con gái đã từng chinh phục cọp rừng ở U Minh này ! Nhưng chẳng may một lần Cư sơ suất bị một thần hổ giết chết, hồn thiên hóa thành một vị thần chăn giữ các bầy heo rừng trong một xứ. Những vạn săn không cúng vái bà, giăng giò, đánh bẫy tới đâu đều nghe bà cất tiếng kêu lảnh lót để ven heo của mình đi dạt nơi khác mà tránh nguy hiểm...
Mặc cho muỗi rừng U Minh bu cắn phải vuốt, bác Ba Phi cùng thằng Đậu kiên trì ngồi đợi. Bác không tin Thần Vòng và cũng không bao giờ chịu cho là giống heo rừng có linh tính. Chẳng qua chúng có cái bản năng đặc biệt là sáng hơi và thính tai thôi. Nếu hôm nay thất bại bác sẽ ăn sao, nói sao với những người đã ghi tên vào sổ mua thịt heo rừng của bác hôm qua ? Lại càng khó nói hơn là bác đã kêu hàng chục “chú ị” mổ heo hàng xáo ngoài chợ sông Đốc vào, buổi sáng này cân ba mươi con heo đứng. Bác Ba Phi đã chắc ăn như ghịt, không lẽ thời vận “bẻ chĩa” bác hay sao ? Cứ bình tĩnh chờ xem !
Thằng Đậu ngồi sau lưng ông nội, cứ ngủ gà ngủ gật. Cuối cùng nó ngằm ngoẻo xuống đám cỏ, ngáy đều đều. Bác Ba thấy thương cháu quá, lột chiếc áo vắt bên vai, đắp thêm cho nó ấm và đỡ muỗi cắn. Chiếc sao mai đã lên hơn một con sào. Chân trời phía đông hơi ửng hồng báo hiệu đêm sắp hết. Từng vệt mây đâm ngang lộ ra tựa những cây đòn xóc đen nằm dài. Bây giờ thì không còn chờ đợi được nữa, quả quyết là bầy heo rừng đã đánh hơi người nên chém vè lại, hoãn cuộc đào bới này rồi. Nghĩ vậy, bác Ba mọp người xuống nhìn ngang qua mặt rẫy khoai một lần chót để xuống mối chắc chắn qua một đêm mất công toi. Rảo mắt qua một lượt thật kỹ, bác Ba chợt giật mình ! Qua ánh sáng mập mờ của buổi bình minh, bác thấy ở vạt rẫy khoai tại sao đêm nay mọc lên nhiều gốc củi lụt lô nhô, lớn có, nhỏ có ? Những chiếc gốc nhỏ cỡ đầu chày giã gạo, những gốc lớn cỡ một ôm. Đám rẫy trước khi vỡ đất đã cạy dọn sạch sẽ đến một nhánh chà cũng không còn, tại sao đêm nay ai khiêng củi đến để đặc gật thế nầy ? Bác Ba ức lắm, để thằng Đậu nằm lại bác cầm cây mác dài, mon men lại xem thử. Đi được mười mét, bác Ba vội dừng lại. Mỗi gốc củi lụt sao lại có gắn một cọng bông lau làm dấu ? Những cọng bông tín hiệu cứ lất phất trước mặt bác Ba trong ánh sáng tản mạn của một đêm sắp tàn. Bác Ba Phi rón rén bước nhẹ đếm một gốc củi gần nhất, đưa tay sờ thử cọng bông lau. Trời đất ! Cọng bông lau biết nguẩy qua nguẩy lại. Bác Ba chụp lại thử xem. Cọng bông lau cắm trên gốc củi lụt như bực bội giựt lia lịa. Và bác Ba nghe bên dưới gốc củi có tiếng ịt ịt phát ra tựa có heo kêu. Bác Ba nắm giật mạnh, cọng bông lau vùng vắng và giật mạnh. Bác Ba Phi đã hiểu ra đây là cái gì rồi ! Máu trong cơ thể tràn lên một cái rần muốn đứng tim, bác phải đưa tay bợ ngực. Bác Ba nói thầm:
- Tổ cha lũ heo ! Ủi chi ủi lút nửa con xuống đất.
Nói xong, bác Ba kê lưỡi mác cứa một nhát phớt qua giữa lưng con heo. Và cứ thế, như một con kỳ đà, bác Ba nhẹ nhàng đi tới một con heo khác, cứa phớt lưỡi mác vào lưng một cái. Lưỡi mác bác Ba bén như nước, từng nhát cứa qua ngọt sớt lớp da lưng heo, không một con nào hay biết gì.
Bác Ba cứ cứa đứt da lưng hết tất cả những con heo rừng ủi rẫy khoai, rồi bò trở lại bên thằng Đậu. Bác thấy nó còn nằm chò co, ngủ ngáy khò khò, bác nắm chân nó giật giật, gọi dậy. Thằng Đậu say ngủ, giật mình chới với. Trong giấc mơ nó thấy đang tả xung hữu đột với một bầy heo rừng, nên nó lấy cây dáo chĩa ngay vào ngực bác Ba, thét lớn:
- Heo rừng !
Tiếng thét của thằng Đậu vừa bật ra, bầy heo rừng đang ủi phá đám rẫy chợt giật mình lồng lên và kêu “Hồ... ộc ! Hồ... ộc” vang dội cả một vùng. Tiếp theo đó là tiếng “cụp, cụp, cụp...” nghe đều cả một đám rẫy.
Còn đằng này, bị thằng Đậu phản ứng bất ngờ, bác Ba giật mình vung mác lên đỡ lấy mũi dáo của nó. Bác nói hổn hển:
- Ông nội đây ! Ông đã cứa đứt da lưng gần trăm con heo.
Thằng Đậu nghe ông nội báo mừng quá, nó nắm tay ông lôi lả đến chỗ bầy heo. Ơi là trời ! Heo rừng lớp lớn, lớp nhỏ không biết tại sao gãy cúp xương sống hết thảy, nằm làng khang trên mặt rẫy tựa cùi đòn. Đứng xem một chút, thằng Đậu ném dáo chống nạnh, lắc đầu thở ra:
- Ông nội làm thế này thì chỉ có môn đem ghe chài vô mà chở.
Bác Ba cười bảo:
- Yên chí ! Hai ông cháu mình nắm đuôi lôi chúng bỏ xuống mương ống.
Thằng Đậu lại cằn nhằn:
- Có bỏ thì bỏ mẹ ở đây, còn lôi lả đi đâu cho mệt ?
- Cái thằng đại ngốc. Mình làm theo kiểu dân Bến Tre thọc dừa khô vậy. Lôi chúng bỏ xuống mương ống, ra tháo nước đập, rút ống bọng, nước xổ ra, chừng đó heo sẽ trôi đùn về tận nhà, mặc sức mà lôi lên.
Nghe ông nội nói phải, thằng Đậu cùng ông lôi những con heo rừng, vòng theo những mương khoai kéo ra mương ống.
Vừa làm thằng Đậu vừa hỏi ông nội:
- Tại sao mỗi con heo ông nội chỉ cứa có một nhát dao vào lớp da lưng vậy ?
Bác Ba giải thích:
- Trời sanh giống heo rừng xương sống ngay đơ như cán cuốc. Muốn bắt chúng khỏi phải tốn nhiều sức, ta chỉ cần nhá một nhát dao vừa đứt lớp da lưng, rồi nạt lên một tiếng cho chúng giật mình, nhảy dựng lên, cụp đốt xương sống, nằm tại trận.



CÒN TIẾP....



ANH ĐỘNG

© CẤM ĐĂNG TẢI LẠI NẾU KHÔNG CÓ SỰ ĐỒNG Ý CỦA TÁC GIẢ


TRANG CHÍNH TRANG THƠ ĐOẢN THIÊN BIÊN DỊCH HỘI HỌA ÂM NHẠC