TÁC GIẢ
TÁC PHẨM




ANH ĐỘNG



. Tên thật Nguyễn Việt Tùng
. Sanh năm 1941 tại Vĩnh Thuận - Kiên Giang
. Hiên cư ngụ tại Thị Xã Kiên Giang
. Hội viên Hội Nhà Văn Việt Nam, Hội Văn nghệ Dân Gian Việt Nam

TÁC PHẨM ĐÃ XUẤT BẢN :

. Bác Ba Phi (tiểu thuyết)
. Bóng núi Tô Châu (tiểu thuyết)
. Xôn xao đồng nước (tiểu thuyết)
. Dệt chặng đường xuân
. Đường về Miệt Thứ (ca cổ).....








TIỂU THUYẾT


BÁC BA PHI - PHẦN I (1 & 2)

BÁC BA PHI - PHẦN I (3 & 5)

BÁC BA PHI - PHẦN I (6 & 7)

BÁC BA PHI - PHẦN II (8 & 9 & 10)

BÁC BA PHI - PHẦN II (11 & 12 & 13 & 14)

BÁC BA PHI - PHẦN II (15 & 16 & 17 & 18)

















































BÁC BA PHI


LỜI NGƯỜI VIẾT

Chuyện nguyên mẫu của bác Ba Phi chỉ nói về thiên nhiên giàu đẹp của xứ sở U Minh, nơi quê hương đang sống, nào rắn rùa, tôm cá, chim chuột tuyệt đối không có chuyện nào nói đến chiến tranh cả. Cuộc kháng chiến chống Mỹ mỗi lúc một ác liệt, chuyện bác Ba Phi mỗi lúc một phát triển đa dạng, lan truyền nhanh, nhân rộng theo những “kênh” đường dây giao liên, vận tải, theo đường hành quân, nơi ăn ở của bộ độ, cơ quan cách mạng. Cứ cái mô-típ gài cốt chuyện rồi tạo một thắt nút có kịch tính phóng đại nhảy vọt, mạnh ai nấy sáng tác rồi đổ thừa đó là truyện của bác Ba Phi. Có những “môn đồ” muốn thuyết phục người nghe còn thề bán mạng là chính mình ngồi giáp mặt bác Ba nghe kể chuyện vào trường hợp nào... nào đó, số môn đồ đó không loại trừ tôi.
Tôi nhớ không lầm, mãi cho đến những năm giặc bình định ác liệt, có nghĩa là vào đầu Việt Nam hóa chiến tranh, từ chiến trường 1C, tôi là người “đưa” bác Ba Phi tham gia vào chiến tranh.
Chiến trường ác liệt đến người ta tưởng tượng rờ đâu cũng đụng cái chết, gian khổ đến thân thể lính ta vào những mùa nước bị ghẻ lác loang lở từ “lỗ chiếu môn đến đỉnh ruồi”. Và đói khát, bệnh hoạn đến vàng da, rụng trọi tóc. Con người cần có tiếng cười như tim cần có máu. Phương tiện chiến tranh hiện đại của địch ở đây thường dùng áp đảo ta ngoài máy bay “cán gáo” còn pháo bầy, tàu binh các loại, trực thăng vận và xe lội nước. Để mượn bác Ba Phi giải tỏa bớt nỗi “ớn xương sống” các loại nầy ở lính ta, tôi nghiên cứu đưa bác ra hàng thế trận diệt chúng từ từ... Đến khi chấm dứt cuộc chiến tranh chống Mỹ, chuyện bác Ba Phi vẫn còn là văn học truyền khẩu, chưa thấy xuất hiện thành văn ở sách báo nào...
Có lần tôi thầm thì với bác Nguyễn Tuân về ý định muốn đưa chuyện truyền khẩu bác Ba Phi vào văn học. Bác Tuân khuyến khích ngay:

“Cậu mổ xẻ ông Ba Phi trên mảnh đất của cậu, bằng con dao của cậu rồi xào nấu với nguyên liệu riêng của cậu, nó sẽ trở thành một món đặc sản thích hợp khẩu vị bạn đọc hơn bất kỳ ai”...

- ANH ĐỘNG -




PHẦN II : MÙA RUỘNG

15 - 16 - 17 - 18




15- CÓ ĐI CÓ LẠI.


Mấy chú Chệt lái heo ngoài chợ sông Đốc đã hợp đồng chặt chẽ với bác Ba Phi, nhưng đến khi đem heo về họ lại “phản phé”, chẳng có một mống nào chạy máy đuôi tôm vô cân. Ức quá, ngày sau bác Ba quá giang xuồng máy thiếm Tư ra tận nơi hỏi cho ra lẽ.
Trước lúc ra đi thằng Đậu còn theo tận mé sông, cằn nhằn ông nội:
- Con đã bảo tin Chệt lái heo như dê tin cọp vậy, ông nội cũng không nghe.
Nghe Đậu nói, bác Ba thấy ân hận, càng căm giận vô cùng. Bởi vậy vừa tới, bác làm ra vẻ hầm hừ, cự nự liền:
- Tại sao mấy nị thất hứa với ngộ vậy ?
Bác Ba suy nghĩ: “Mấy chú Chệt nầy nói dóc với mình chẳng khác múa rìu qua mắt thợ. Chạm vào tổ sư rồi, đố chạy trời cho khỏi nắng. Bác phải chơi lại một vố cho cay, cho lũ nhóc con mở mắt biết ai là bậc thầy”. Bác nghĩ vậy nên thay đổi thái độ.
Bác Ba tươi cười bảo mấy chú lái heo:
- Heo rừng cân sợ lỗ thì cân heo nhà vậy. Heo của tôi vừa lứa xuất chuồng có độ vài ba mươi con. Nhân dịp các nị vô cân, tôi bảo bà con lối xóm cùng bán thêm vài chục con nữa. Họ cử tôi ra kêu các nị... Nếu không, tôi đi luôn Cà Mau kêu công-xi vô cân, chừng đó đừng có ức.
Nghe bác Ba bảo xóm Kinh Ngang có heo xuất chuồng độ trăm tấn, mấy chú lái mừng quýnh, ánh mắt người nào cũng sáng rực.
Mặc dù mặt trời đã xế dài và đang chuyển mưa họ cũng í ới gọi nhau sửa soạn dụng cụ, châm dầu, tát nước vỏ để vào Kinh Ngang quyết chơi phỗng tay trên đám lái công-xi Cà Mau. Và rồi trời lại đổ mưa. Bác Ba giả bộ lạnh, bảo ở lại sáng mới về. Mấy chú lái hoảng hốt năn nỉ xí xố, bảo thế nào bác cũng ngồi vỏ dẫn họ về ngay trong chiều nay.
Họ chạy tất bật lo chuyến đi nhanh chóng, và tìm áo mưa trùm cho bác Ba. Nhìn họ làm hào hển không dám nghỉ mệt, bác Ba thỉnh thoảng quay ra ngoài cười một cách đắc ý.
Chốc sau, con đường từ vàm Rạch Lùm chạy lên Kinh Ngang người ta thấy có ba chiếc máy “tắc ráng” nối đuôi nhau chạy phun khói xanh. Những lượn sóng cuộn lên vạch thành từng mũi tên bung rộng trườn vào bờ, xô vào những hang hốc kêu xoàm xoạp. Chiếc vỏ máy cuối cùng có bác Ba Phi ngồi giữa, chân tréo ngoảy, hút thuốc phì phèo. Bác cứ nhìn vào những bà con hai bên bờ, miệng tủm tỉm cười hoài.
Qua chỗ kiếng đập, cua quẹo Rạch Lùm, bác Ba trỏ tay vào bờ chỉ cho mấy chú lái xem và bảo:
- Mấy nị chơi xạo vô cùng. Đã hợp đồng lại tự ý bỏ, làm tụi tui phải quăng thịt heo rừng trôi đặc sông như vậy đó.
Mấy chú lái liếc nhìn những mảng thịt heo rừng trôi dập dềnh trên sóng tựa những dề xăng đặc mà lấy làm xấu hổ, không dám ngó lên. Bác Ba cười gằn:
- Ở đời có tin cậy nhau không là kiểm qua việc đối xử, còn chơi xỏ nhau, điều ấy hử, ai dễ thua ai ? Các nị chỏi mắt mà xem sự đời sẽ có đi có lại.
Mấy chú Chệt lái heo chẳng nói gì, cứ gầm mặt, lên ga máy vọt tới tới. bây giờ trước mắt họ là những con heo mập ú sắp xuất chuồng của bác Ba cùng bà con Kinh Ngang, rồi đây hàng loạt heo sẽ được vào bội, sẽ được xuống vỏ máy, rồi sẽ đưa lên vựa Chánh Hưng và rồi cùng hàng loạt xấp tiền thẳng rang, thơm phức thi nhau chui vào nặng trịch cái hành thầu của các nị...
Những chiếc vỏ máy chạy tới cửa nhà bác Ba Phi, rướn mũi lên bờ. Ba con người lực lưỡng cầm vòng bắt heo đi lên trước, một ông già đầu bịt khăn khấc, hút thuốc phì phèo, cằm lưa thưa râu bắp thủng thỉnh theo sau. Vô gần tới cửa nhà các “chú ị” xí xô xí xào:
- Pà Pa đi đâu vắng rồi ông Pa ?
Bác Ba Phi làm như không nghe câu hỏi của họ. Trong lúc họ còn đứng nhí nhố ngoài hàng ba, bác tiến lên, bước vào trong, hắng giọng:
- Đậu a ! Ra biểu đây.
Thằng Đậu chạy ra, nhe hàm răng trắng muốt cười, nhìn ông nội. Bác Ba nháy mắt ra ý cho đứa cháu nội, rồi thản nhiên trao đổi công chuyện nhà với nó:
- Mấy chí lái này đưa ông nội về để cân mười con heo đúng lứa xuất chuồng của mình. Bà nội đâu, bảo xúc cám cho heo ăn để rồi cân !
Thằng Đậu hiểu ý ông nội, nó vỗ tay đánh đốp làm ra vẻ sửng sốt, nhìn vào ông rồi chuyển sang nhìn mấy chú lái, kêu lên:
- Chết rồi !
- Chết cái gì ?
- Nguy rồi !
- Nguy làm sao ?
- Tại ông nội không dặn...
- Dặn cái gì ?
- Dặn bà nội ở nhà đừng bán heo.
- Rồi sao nữa ?
- Nên bà nội không biết, bán hết cho mấy chú ngoài Rạch Ráng rồi chớ sao ? Bà nội đi theo ra ngoài đó lấy tiền chưa về.
Bác Ba ra vẻ nổi giận, chồm tới nắm ngực thằng Đậu gầm lên:
- Bà cháu mầy hại tao rồi ! Bây giờ tao phải ăn nói sao với mấy chú lái đây ?
Mấy chú lái heo sông Đốc đứng theo dõi cuộc nói chuyện của hai ông cháu bác Ba mà đực người ra, lắc đầu hỡi ơi ! Mặt mày chú nào cũng đắng nghét. Bác Ba uể oải ném tàn điếu thuốc, thở ra, quay sang phân trần với mấy chú lái:
- Các nị coi, bà cháu nó cho tôi leo cây như vậy đó !
Mấy chú lái xí xố phàn nàn:
- Ông Pa chơi zầy kẹt tụi tui quá xá !
Bác Ba thở ra, nói nửa úp nửa mở:
- Cũng tại các nị không biết kiêng cử, chạm vào tổ sư của nghề nói dóc. Chuyện đời... có đi có lại thôi.
Chờ mấy chú lái heo đi rồi, bác Ba ôm thằng Đậu vào lòng, mắng yêu:
- Mồ tổ cha mầy ! Nhanh trí ứng phó tuyệt vời như vậy là nối dòng ông nội được rồi đó con ạ.
Thằng Đậu được ông nội khen vừa khoái chí cũng vừa mắc cỡ, gỡ tuột tay ông chạy ra ngoài. Đậu nhảy tung tăng xuống nhà dưới, nói lui:
- Với mấy thằng cha Chệt lái heo xỏ lá đó phải “chơi đẹp” như vậy mới vừa, chớ ông nội !
Bác Ba hỏi với theo:
- Bà nội mầy đi đâu, hở Đậu ?
- Thấy trời đổ mưa, bà nội đi kêu công nhổ mạ để mai cấy cho kịp lứa.
Bác Ba vuốt râu cười hà hà tỏ vẻ rất hài lòng, ngồi gật gù nói một mình:
- Cháu cũng như bà, thật là những con người hết sức linh hoạt !
Nói xong, bác Ba bước ra ngoài cửa, đi đến xóm ngoài, dặn lui lại cho thằng Đậu ở nhà:
- Bà nội về bảo ngâm nếp khuya xôi cho người ta ăn cấy, nghe Đậu ! Ông nội đi kêu công cấy một bữa cho xong một chục công lúa sa-mo nầy.


16- LÚA NỞ NGẦM.


Cấy xong một chục công lúa sa-mo trời cứ đổ mưa hoài, làm cho bác Ba Phi ngồi khoanh tay rầu rĩ. Bác cứ nhấp nha, nhấp nhổm, uống trà, đi ra hàng ba đứng treo tay nhìn những cơn mưa mờ mịt ruộng đồng, rồi trở vô ngồi vấn thuốc hút, uống trà. Thật là sống ở thời buổi nầy một khi bị tai nạn thiên nhiên giáng xuống thì sức người đành vô phương khả đảo. Đêm nằm trăn trở lắng nghe từng cơn mưa rơi lộp độp trên mái lá mà bác Ba cứ thở vắn than dài ! Bác hay lặp đi lặp lại với bác gái cùng thằng Đậu một câu:
- Từ hôm xuống nọc cấy đến nay tính đã... Ơi, sao mưa mãi là mưa ! Cái điệu nầy chắc “bà Thủy cắt hộ tịch” mười công lúa sa-mo của mình rồi.
Nhưng từ sau cái đêm than thở não nuột của bác Ba, dường như động lòng trời, sáng ra có mây ráng đỏ chen vào giữa buổi bình minh. Triệu chứng này báo hiệu cho một ngày quang đãng. Quả như vậy. Mặt trời ló dạng vàng óng như chiếc mâm thau được chùi thuốc tẩy, chiếu ra nhiều tia sáng kỳ diệu. Chim chìa vôi cất tiếng hót líu lo ngoài tàn cây xoài. Những con cúm núm lai gà tàu ở đầu bờ ruộng gù lên hai giọng: “ò ó o... ò, cúm núm, cúm !...” Và con bò lai nai nửa tháng trời bị thằng Đậu niệt miết trong chuồng cho ăn toàn những rơm khô, bây giờ thấy trời ấm áp, nghếch cái đầu có chà gạc lên, nhìn đám cỏ non bên ngoài bằng cặp mắt trong veo, thèm thuồng rồi cất tiếng rống như mừng rỡ: “Uïm bò ! Bét, bét !”. Mặt trời càng lên cao, những tia nắng sớm càng soi óng ánh qua từng kẽ lá trong khu vườn cây tổng hợp của bác Ba Phi.
- Nắng hồng tươi soi bóng các em đến trường...”
Trong lúc bác Ba Phi lắc nước chiếc xuồng ba lá sau mương, để chuẩn bị đi thăm ruộng, thằng Đậu trong nhà cứ ca hát và nhảy nhót tựa con chim trao trảo.
- Đậu à ! Sửa soạn đi thăm ruộng với ông nội !
Nghe ông nội kêu, thằng Đậu vội lấy chiếc nón vải màu xanh cũ mèm có một lỗ rách trên chóp đội lên đầu và xách cây sào nạng chạy ra. Đến bên xuồng. Thằng Đậu bị bác Ba bảo quay trở lại:
- Bỏ hờ theo một chiếc liềm hái, coi có cỏ rác gì mọc theo bờ mà cắt vén cho lúa.
Sau đó, ông lái, cháu mũi chống xuồng qua mấy mương liếp, ra tới mé ruộng. Qua đợt mưa chum, nước đồng lênh láng như biển. Từng đợt sóng của ngọn gió nồm bỏ vòi trắng đã bổ xồng xộc vào mạn xuồng. Ông cháu bác Ba lái xuồng thả trôi theo sóng. Xuồng chạy te te trên mặt đồng, hướng mũi về phía đám lúa sa-mo. Trên mặt đồng, những nơi cỏ bắp hoặc cỏ chỉ đều bị nước ngập láng te. Những đám sậy, đám điên điển bị cỏ mục của giồng cào trôi đùn, chất lên nhau, mang theo hàng hà sa số là gián nước và kiến riệng. Sóng đánh sì soạp vào be xuồng. Gió thổi rì rào qua đám sậy. Gió đùa lất phất hàm râu lưa thưa dưới cằm bác Ba. Gió vuốt mơn man qua món tóc trán thòi ra chỗ nón rách trên đầu thằng Đậu. Cảnh thôn quê dịu dàng làm dễ chịu lòng người. Gió êm đềm mát mẻ tâm hồn người ta đến nhớ nhung mông lung vời vợi ! Hai ông cháu bác Ba cứ thả xuồng và thả hồn mình trôi vào mơ mộng.
Họ cứ mê mải mỗi người tham gia vào “câu lạc bộ” của quá khứ, của tương lai riêng biệt, không ai lái xuồng kềm cho nó đi ngay ngắn. Xuồng trôi tấp vào một con giồng cỏ cạnh miếng ruộng lúa sa-mo mà họ định đến thăm tự hồi nào. Khi nhìn thấy một khu vực mặt đồng nước sôi tim mẳn tựa có một bầy cá ròng ròng khổng lồ đang ăn mống, họ mới giật mình. Bác Ba gò xuồng lại, trở ngược ngọn sào xốc xuống đất, cột xuồng. Mở gói thuốc bánh giồng ra quấn một điếu lớn bằng ngón tay cái, ngồi bập khói, đôi mắt cứ hấp háy như còn tiếc ngẩn cơn mơ, bác Ba rầm rì phàn nàn:
- Nước ngập láng te thế này, ba cái lúa “đi ông Yẹâm” hết rồi, thật toi công.
Nhìn mặt nước sôi tim mẳn, bác Ba càng chua xót trong lòng. Nhưng dù sao bác cũng thăm dò xem đám lúa còn mất thế nào. Bác Ba uể oải ném điếu thuốc đánh xèo và chậm rãi xắn quần lội xuống ruộng. Điều trước hết làm cho bác Ba ngạc nhiên là khi hai chân vừa chạm tới đất dường như dẫm phải những bụi cỏ tươi còn đang căng sức sống ngầm mãnh liệt. Bác Ba chựng người, kêu lên một tiếng nhìn thằng Đậu rồi khom người dùng tay sờ thử. Lại một ngạc nhiên kế tiếp: tai bác nghe rõ ràng những tiếng rào rào dường như tằm đang ăn lá dâu dưới lòng nước. Kinh ngạc quá, bác Ba mò quýnh quáng trên mặt đất để tìm xem chuyện gì. Chốc sau, khi mọi việc được xác định rõ ràng, bác Ba ngẩng người lên thở ra một hơi dài, và vui vẻ báo tin với thằng Đậu:
- Lúa vẫn sống ! Lúa đang nở ngầm trong dòng nước. Mầy nghe tiếng lúa vặn mình nở rào rào đó không ?
Suốt mười ba năm sống trên thế gian nầy, thằng Đậu chưa hề nghe thấy điều kỳ quặc vậy. Nó liền nhảy ùm xuống đồng nước mò thử để kiểm nghiệm lời nói của ông nội.
Tất bật thế nào, khi phóng xuống ruộng, ống quần của nó vướng vào mũi xuồng, giật một cái đập đầu vào tấm lô, mắt đổ lửa:
- Trời đất ơi !
Nghe tiếng kêu thảm thiết của đứa cháu, bác Ba Phi vội chồm đến đỡ nó dậy. Bác vuốt ve, xuýt xoa cho nó. Cái quần vải tám của thằng Đậu tét dọc từ ống lên tới háng. Một tay túm ống quần, một tay thằng Đậu mò tìm thử xem cái chuyện lúa nở ngầm ông nội vừa nói. Quả thật ! Những bụi lúa đang vặn mình lên đâm ngạnh trê, xé bẹ nở ra lách tách nghe tựa hàng ngàn con tép rộn rã búng nhảy. Thằng Đậu mê quá, nắm gọn vào tay một bụi nghe thử sức nở của lúa. Lúa cứ xạo xự vươn mình chỉ chốc sau đó là đầy cứng một nắm tay.
- Làm sao hở ông nội ? Cứ để như vầy lúa sẽ nở đặc gật, tới chừng trổ bị lốp hết, không có một hột nhổ râu cho mà xem.
Bác Ba đứng ngẫm nghĩ một hồi rồi ra lệnh cho thằng Đậu:
- Phải đi cắt tranh về bó từng bụi lúa lại để hạn chế sức nở của nó.
Ông cháu bác Ba chống xuồng như bay lên vạt đất gò Kinh Ngang cắt chở về một xuồng cọng tranh. Từ đó cho tới chiều tối, hai người mò mẫm bó lại từng bụi lúa đang có tốc độ nở ngầm dưới nước. Đêm ấy về nhà, bác Ba Phi chống xuồng lên đầu trên, xóm dưới kêu bà con đi “bó lúa” với ông cháu bác vào ngày mai.
Sáng hôm sau già, trẻ, bé, lớn, đàn ông, đàn bà, con trai, con gái, trẻ con cả xóm rầm rộ chống xuồng ra ruộng bác Ba Phi để “bó lúa” vần công. Dĩ nhiên xuồng của ông cháu bác Ba chống tiên phuông. Lúc dắt đoàn đi gần tới miếng ruộng lúa, chợt trông thấy một hiện tượng kỳ lạ, vội hô bà con dừng lại. Những chiếc xuồng ba lá khẳm mẹp người ta dồn lại thành cục, tiếng sào khua rột rạt, tiếng người xôn xao bàn tán rì rầm nổi lên. Thấy hàng ngũ nhốn nháo mất trật tự, bác Ba hô lớn cho họ yên tâm:
- Cũng chẳng phải có chuyện gì lạ lùng lắm đâu. Dường như có kẻ nào đem lưới đại quàng lại giăng trên miếng ruộng của tôi. Bà con trông kìa, những hàng phao lưới trắng trắng, đen đen đang nổi bập bềnh đầy mặt ruộng đó.
Tất cả nhìn theo tay bác Ba Phi. Chỗ miếng ruộng, ngay khu vực bác Ba với thằng Đậu “bó lúa” hôm qua, có hàng dọc xâu chuỗi phao lưới của ai đang giăng, phao lưới màu đen có, xám có cái nào cũng bự bằng trái dừa khô. Tất cả bà con nổi giận thét lên:
- Lưới quàng sao không giăng ngoài khơi mà bắt cá đao, cá dống lại đem giăng bừa lên trên lúa ngập nước của người ta ?
Thét xong, bà con ào ào tới, không cần phải làm thông lệ là ăn trầu, hút thuốc trước khi bước xuống ruộng. Thằng Đậu đứng trước mũi, bác Ba Phi chống sau lái của chiếc xuồng đi đầu. Xuồng vượt lên ao ào, mũi lòa nước trắng dã. Bỗng nhiên thằng Đậu kêu lên:
- Coi kìa ! Mỗi chiếc phao sao lại có hai chân chòi đạp sáng nước?
Bác Ba vội vã chống sào nạng nhún liền mấy cái, chiếc xuồng vọt tới nơi. Bác đã biết rõ những cái thứ trước mặt là giống gì rồi, vội thét lên:
- Xúm lại bắt chim bà con ơi !
Nghe bác Ba Phi kêu, tất cả xuồng ùn ùn chống tới, vây quanh khoảnh ruộng có những hàng “phao lưới” nổi. Khi nhìn tận mắt họ mới vỗ tay rần rần, cười nói vang dậy trên đồng nước:
- Thật là chuyện lạ trên đời, thế gian hi hữu !
Chim ơi là chim ! Chàng bè, le le, giăng sen, cồng cộc không rõ can cớ gì mà chúng cứ chổng mông, cắm đầu xuống nước, giơ hai chân chỏi ngược lên trời ? Bà con nhảy ùm xuống ruộng mò thử xem. Rốt ra họ mới hiểu rõ nguyên nhân: Chim đang mắc kẹt đầu trong giữa bụi lúa. Đây là những loài chim ăn đêm, mò nước, bị lúa nở ra, kẹp mắc đầu vào giữa kéo không lên được. Bà con xúm lại “nhổ” chim lên, dùng dây tranh bó lúa trói chúng lại, mỗi xuồng bỏ đầy một khoang.


17- KHO LƯƠNG THỰC CỦA CHIM KÉC VÀ CHIẾC TÀU BẰNG XƯƠNG.


Mấy chục bà con giúp bác Ba Phi đến mấy ngày mới “bó” xong mười công lúa sa-mo ngập nước. Sau đó mươi hôm, lúa ló đọt lên khỏi nước. Tuy trải qua một cuộc sống ngầm trong lòng nước, lúa vẫn xanh um.
Một thời gian nữa, lúa bắt đầu trổ. Và chỉ trong vài ngày, mười công lúa sớm của bác Ba trổ rộ như mâm xôi, mặc dù từng bụi của nó vẫn còn bi bó siết trong vòng dây tranh.
Một bữa, bác Ba ra thăm ruộng về bảo với thằng Đậu rằng mười công lúa sa-mo đã vàng mơ hết rồi. Lúa trúng vô kể: bông dài, trái nẹo, ngọn xây đụn trông tựa lúa quây trong đệm. Như thế phải vào miếng ruộng cất một cái chòi để chuẩn bị kêu thợ gặt vào thu hoạch.
Sáng ngày, bác Ba bảo thằng Đậu:
- Vác búa đi cùng ông nội ra miếng ruộng đốn cây cất một cái chòi !
Độ này ngơi mưa, nước đồng cũng giựt cạn, ông cháu bác Ba kẻ vác búa, người xách liềm hái lội bộ ra miếng lúa sa-mo. Họ định vừa đốn cây dựng chòi, vừa cắt tranh lợp mái luôn. Trên đường đi, hai ông cháu lý quốc với nhau:
- Mười công lúa sớm nầy chắc thu hoạch được hai trăm giạ.
- Có nghĩa là bốn tấn một héc-ta hở ông nội ?
- Không phải. Đằng này là công tầm ba thước: tầm ta, còn tính theo héc-ta tầm hai thước sáu ba ba: tầm tây.
- Thằng Tây vô cướp nước mình nó cũng vác tầm theo nữa hở ông nội ?
- Cái thằng này tối dạ như đêm ba mươi. Tầm tây là tầm điền, tầm ta là tầm cấy, biết chưa ?
Câu chuyện hai ông cháu vụt nín ngang, họ bàng hoàng trước quang cảnh thay đổi kỳ lạ ! Mười công lúa chín mới hôm qua còn trông vàng rực, tại sao bữa nay lại đổi màu xanh lục và cứ xạo xự như đang có một cơn dông ?
Bác Ba chỉ tay bảo thằng Đậu:
- Mắt tỏ, mày xem ! Xưa nay lúa xanh chín tới hóa vàng, đằng này lúa vàng lại hóa màu xanh ?
Tuy bảo cháu, nhưng bác Ba cũng móc túi lấy cây kiếng soi ra đeo lên mắt để xem. Thằng Đậu vụt thét lớn:
- Chết rồi ông nội ơi ! Bầy kéc đang bu ăn, đậu lợp kín đám ruộng của mình !
không ai bảo ai, hai ông cháu chạy ào tới, thét to:
- Chúng mày đâu phải địa chủ, lúa mới vàng mơ lại kéo tới thu tô?
Đàn kéc trạc hà sa số nhảy nhót xôn xao. Những con kéc lớn bằng bắp tay, mỏ đỏ, ức vàng, mình xanh lá cây non cứ tranh nhau cắn đứt từng bông lúa, kêu réo om sòm. Ông cháu bác Ba đuổi xua quyết liệt. Bầy kéc hè nhau mỗi con cắn một chùm bông lúa bay lên một cái rần. Chúng đảo xây quần mấy vòng rồi hướng thẳng vào rừng U Minh mà bay. Nóng của quá, ông cháu bác Ba kẻ xách búa, người cầm liềm đuổi theo. Chạy ngang qua đám ruộng, bác Ba càng chua xót hơn ! Lúa còn trơ những rạ là rạ. Ô hô, một chục công lúa sớm trúng như bồn đã đi đới nhà ma, chẳng còn sót lại một bông. Bác Ba uất ức, chỉ liềm hái lên trời thét lớn:
- Ông thề đuổi theo tận hang ổ chúng mầy !
Thằng Đậu cũng vung búa lên thét theo:
- Con cũng thề...
Hô được mấy tiếng, thằng Đậu trượt chân té ngửa. Nó bị ông nội chạy bỏ mấy chục thước. Lồm cồm ngồi dậy, thằng Đậu cố sức đuổi theo. Bầy kéc bay ào ào xanh trời. Ông cháu bác Ba đuổi theo xồn xộn trắng nước. Chân người đuổi không kịp cánh chim bay. Chỉ một lúc ông cháu bác Ba mệt lử khử, chân hươu đá chân nai, mũi thở phì phò như kép bễ. Bầy kéc bỏ rơi hai ông cháu mỗi lúc một xa dần. Đường hàng không của kéc rộng rãi mênh mông bốn bề lộng gió mặc sức mà tung bay, khốn nỗi tuyến đường bộ của ông cháu bác Ba quanh co lùm bụi, lung đầm lầy lội. Rốt cuộc, một lúc sau đàn kéc đi mất dạng, bỏ hai ông cháu bác Ba phía sau, theo dấu những chiếc lông rơi mà lần mò định hướng.
Cũng không khó khắn cho lắm, ông cháu bác Ba vào tới rừng U Minh. Nơi đây là một khoảnh rừng cổ thụ. Những cây tràm gốc lớn cỡ ôm, những cây tràm “ông ngoại” cành đeo đầy hoa phong lan nhiều màu sắc. Những cây buồi thẳng đuột, thân tựa chiếc bồ đập lúa nhô cao thượng tầng, đứng lưa thưa rải rác. Khoảnh rừng nầy chân rừng trống, có nhiều lá mục chồng chất lên nhau thành một lớp mùn dầy đen đậm. Cạnh bìa rừng có một con đầm rộng, nước đỏ thẫm, chỗ đuôi con đầm là nối tiếp ngọn lung Xẻo Lá. Lung chạy thẳng ngang hậu đất của bác Ba.
Bấy giờ ông cháu bác Ba mới nhận ra, nếu có chiếc xuồng thì cứ bơi theo con lung này về nhà một cách thoải mái.
Ông cháu bác Ba đi luẩn quẩn trong khu rừng cổ thụ một lúc để tìm dấu vết bầy kéc, nhưng tuyệt đối chẳng thấy gì. Bác Ba thua buồn ngồi tựa lưng vào một thân cây buồi lớn như cái miếu Thổ Thần, mở gói thuốc bánh giồng ra vấn hút. Còn thằng Đậu thì chạy tung tăng, tìm gỡ những buồng hoa phong lan trắng muốt, tím rịm có mùi thơm ngào ngạt. Từng chùm hoa buông thả theo những cành cây lòng thòng đủ màu sắc, thấy mà ham ! Hết gỡ hoa phong lan, Đậu lại tìm bứt những lá “U Minh” màu xanh lục có nhiều cánh li ti uốn éo xếp lại thành hình chiếc quạt hoa quì. Thằng Đậu mê mải theo những món đồ chơi vô cùng thú vị của rừng, nó không đếm xỉa gì tới ông nội đang ngồi hút thuốc dựa gốc cây buồi kia.
- Sửa soạn long bưng lội tắt về nhà, Đậu à !
Nghe tiếng ông nội gọi, thằng Đậu vội chạy đến. Nó chợt thấy ông liền dừng lại kêu thảng thốt:
- Thánh thần ơi ! Sao đầu tóc của ông nội bạc phếu hết trơn vậy ? Ông nội ngồi chơi mà lại thay chiếc áo trắng làm chi nữa ?
Bác Ba ngơ ngác trước câu hỏi lạ lùng của thằng cháu. Bác chậm rãi đưa tay sờ lên mái tóc rồi hạ xuống nhìn, lại sờ lên vai áo, hạ xuống nhìn. Lòng bàn tay bác dính đầy một lớp bột trắng như phấn. Lấy làm lạ, bác đưa lên mũi ngửi. Bác Ba vụt châu mày, nôn ọe và phun nước miếng phì phèo.
- Mồ tổ cha, cứt chim !
Thằng Đậu ngửa cổ lên cười hăng hắc:
- Lại một lần nữa chim lấy đầu ông nội làm cầu tiêu.
Nhưng đang cười bò lết, thằng Đậu vụt nín bặt, và trỏ tay lên ngọn cây buồi:
- Không phải chim. Kéc, kéc kìa !
Bác Ba nhìn lên. Quả thật là một đàn kéc đông đến hàng hà sa số ! Kéc đậu tầng tầng, lớp lớp trên một thân cây buồi chết khô đứng trơ trọi tự bao giờ. Kéc có sắc lông xanh tựa lá cây và chúng cứ đậu một cách im lìm, làm cho ông cháu bác Ba Phi trông qua ngỡ là một thân cây còn xum xuê những lá tươi, cành rậm.
Nổi giận lôi đình cho bầy kéc vô phép, bác Ba Phi chụp chiếc búa bổ mấy nhát vào thân cây buồi chết khô, quát lớn:
- Ông phải đào mả cha chúng bây vì cái tội hỗn láo nầy !
Bầy kéc vụt bay lên một cái rần, la dậy trời đất rồi hướng về phía rừng xanh, đi thẳng, bỏ lại một thân cây buồi chết khô đến bây giờ mới hiện nguyên hình. Những nhát búa bửa của bác Ba dội ra một thứ âm thanh lạ lùng. Nếu cây buồi đặc ruột thì tiếng kêu “cạch, cạch”, còn cây buồi bộng ruột thì kêu “cum, cum” như tiếng mõ, đằng nầy... Bác Ba lưỡng lự, trở đay búa nện vào thân cây mấy nhát nữa. Rõ ràng là tiếng dội nghe bình bịch như nện vào một bồ chứa đầy lúa. Bác Ba tức mình quá, trở lưỡi búa lại chém mấy nhát thật mạnh vào thân cây. Lại một chuyện bất ngờ không thể tưởng tượng nổi: Lúa hột từ trong thân cây buồi tuôn ra như suối chảy. Ông cháu bác Ba quýnh hồn đứng chết trân một hồi lâu mới hốt lúa lên xem. Hột lúa trọng ong, rõ ràng là giống lúa sa-mo mùa sớm còn tươi rói. Bác Ba liền hiểu ra, vươn vai thở khì, dẫn giải cho thằng Đậu:
- Đây là cái kho lương thực của chim kéc. Thân cây buồi khô bộng ruột, bên trên có những lỗ rỗng. Kéc tha hết đám lúa mười công của mình về vựa vào đây.
Nghe ông nội nói, thằng Đậu nổi nóng:
- Mẹ kiếp tụi kéc ! Hồi làm mùa cứ thả phể trên mây xanh, khi thu hoạch lại kéo cả lũ đến huy động lương thực của người ta, phải khui vựa lúa của chúng mà lấy lại cho người sản xuất.
Ông cháu bác Ba bàn cách lội về mướn xuồng vô lòi kho lúa của bầy kéc. Thằng Đậu đưa ý kiến:
- Ông nội về chống ghe vô, con ở đây giữ, kẻo heo rừng kéo tới ăn lúa hết. Vừa cướp lại trên tay thầy pháp lại cúng vào tay thầy chùa ức lắm.
Bác Ba phân tích tình hình với cháu:
- Lúa hột còn nằm trong bọng cây, ta lấy bổi nhét lỗ ví lúa lại rồi cùng về chống ghe.
Thằng Đậu mừng rỡ, nhưng nó lại nhắc ông nội:
- Nhưng mà ông nội phải đi tắm cái đã, kẻo thúi lắm !
Bác Ba cười gượng, rồi bẽn lẽn lội xuống con đầm trước mặt, khoát nước tắm. Bác gội đầu và xoa râu cho trôi đi những lớp cứt kéc đang tô đầy trên người. Nước đầm sâu đến cổ, màu đỏ thẫm và mát lạnh. Nước ngọt ngào làm sao ! Càng tắm bác Ba càng thấy mát mẻ dễ chịu. Bác nghe tâm hồn sảng khoái, thân thể nhẹ nhàng, khỏe khoắn vô cùng. Như quên hết tuổi già đã qua lục tuần, bác Ba cảm giác đang sống lại thời thanh niên tráng kiện. Bác tung mình quẫy nước nhào lộn mấy vòng cho thỏa thích. Nhưng sau một cái lộn mèo cuối cùng, bỗng đầu bác Ba chạm vào một vật cứng và lớn tựa bộ ngựa nằm dưới lòng nước. Mặc dù đầu bị ê ẩm, bác Ba cũng dò bàn chân sờ thử vào vật kia. Vật đó có mô hình khum khum như nấm mả, thân lớn gấp ba chiếc giường ngủ nhập lại. Không lẽ giữa đầm lầy trong rừng lại nổi cù lao ? Bác Ba sờ kỹ mép bìa của cái mô, hồi lâu bác mới thở ra cái khì và xác nhận đó là gì. Bác đưa tay ngoắc thằng Đậu.
Thấy ông nội gọi, thằng Đậu vội nhảy ùm xuống đầm. Sau khi nghe lời ông, lặn một hơi dài xuống nước sờ thử theo mép rìa của cái mô, thằng Đậu nổi lên la lớn:
- Con càng đước quá mạng, ông nội ơi ! Rìa mu có răng cưa mà.
Bởi vì là một cái mu con rùa thì không đời nào mép rìa trước và phía sau có hình răng cưa lồi lõm, thằng Đậu đã thừa biết điều này. Bác Ba phì cười, đáp lại lời cháu:
- Quả thật là con càng đước, nhưng nó đã rũ xương rồi,còn có cái bọng không.
Sau khi nghiên cứu kỹ, ông cháu bác Ba Phi quyết định lên bờ đốn cây, chặt dây mây cột, trục cái mu con càng đước rũ xác này lên, có việc rất cần thiết. Thế rồi họ xốc cắm những cây đòn xeo, đòn trục gát nạng qua và một sợi dây mây dốc đánh thật lớn. Xong đâu đó, hai ông cháu cầm những cây nằm đẽo dẹp xoe vòng theo rìa chiếc mu con càng đước phần lấp trong bùn. Rồi kẻ dưới nước, người trên bờ hè hụi xeo, trục. Quay gần suốt một tiếng đồng hồ cái mu con càng đước mới bật lên, rồi dùng búa bửa bỏ phần cái yếm bên dưới. Hai ông cháu bác Ba trổ nghề “đóng tàu” dã chiến đến mệt phở hơi tai. Thằng Đậu múc nước chùi rửa sạch sẽ lòng tàu, rồi hai ông cháu bắt đầu hạ thủy. Hai người nhìn cái mu con càng đước lật ngửa trên nước mà cười ngất, thật là nó lớn không thua chiếc phum của đám quận Nhung.
Ông cháu bác Ba dùng cái yếm con càng đước làm bàn khiêng. Họ bổ rộng lỗ hổng “kho lương thực” của lũ kéc cho lúa chảy ra rào rào. Cứ như thế, hết khiêng này đến khiêng khác, hai ông cháu chuyển sạch kho lúa của kéc xuống tàu.
“Tàu” cứ đi bon bon về hướng hậu đất. Thấy chỉ trong vòng một ngày mà gặp bao nhiêu là chuyện lạ nhất trần đời, thằng Đậu ngồi trước mũi vít đốc, cười nói huyên thiên:
- Bọn ngụy chở lính bằng tàu sắt, chủ đò chở khách bằng tàu cây, còn ông cháu mình thì chở lúa bằng tàu... xương, hén ông nội ?


18- VÌ THÙ VẶT MÀ CHÚA SƠN LÂM TRỞ THÀNH KẺ KHỔ SAI.


Chiếc tàu “xương” của ông cháu bác Ba chở mấy chục giạ lúa về tới tận hậu đất, chỗ bờ đìa cuối con lung, bác Ba Phi bảo thằng Đậu:
- Mầy về nhà lấy đệm, thúng ra. Sẵn có bờ đìa cao ráo xúc lúa lên đây phơi luôn.
Sau đó ông cháu bác Ba Phi trải đệm trên bờ đìa, dùng thúng xúc hết lúa hột dưới mu con càng đước lên mới dắt nhau về nhà.
Sáng hôm sau, một mình bác Ba chống xuồng ra bờ đìa để trải đệm, cào lúa ra phơi. Bác xúc từng thúng lúa đổ ra cán thật đều cho hứng lấy ánh nắng. Đang làm, bác Ba nghe bụng hơi nôn, rề lại đầu đìa tìm chỗ “làm vệ sinh”. Bác ngồi quay lưng về phía mé rừng, phía có một lùm ráng cao. Hai chân ngồi đạp trên hai đầu gốc cây, gió thổi lòn hiu hiu mát rượi, thật là một chỗ “đi cầu” lý tưởng, bác Ba nghe lòng khoan khoái, vuốt râu, thầm thào ngâm mấy câu thơ “tráng sĩ hề”. Trong lúc hứng thú, bỗng có một mùi khen khét theo gió phất qua làm bác Ba giật mình ! Bác biết ngay là mùi gì rồi. Nghe gáy bắt đầu rờn rợn, ốc nổi rần sống lưng. Bác Ba cứ liếc chừng vào lùm ráng, nghĩ thầm: “Ông Ba Mươi lảng vảng đâu đây”. Bác lắng nghe từ trong lùm rậm có tiếng động. Bác nực cười, lại nghĩ: “Chọc đến ông, ông cho mầy đi rửa tay cho biết xấu”. Một tay nắm lưng quần, bác Ba cứ liếc nhìn không rời chỗ lùm ráng. Chỉ vài tích tắc, tức thì một cái bóng vằn vện tựa bức vải gấm từ phía ấy bay vèo đến, chụp phủ lên người bác Ba. Đã có chuẩn bị sẵn, bác Ba xách quần trịch ngang. Bàn tay trái con cọp chụp phải bãi phân còn nóng hổi của bác Ba. Bị dơ tay, cọp phải đưa lên trời chịu trận. Thấy thế, bác Ba cả cười, điểm tay vào cọp:
- Một lần cho bỏ tật rình rập sau lưng nghe !
Con cọp gấm vừa ức vừa xấu hổ nhăn mặt, khịt mũi gầm lên một tiếng như đe dọa sẽ còn gặp nhau, rồi tốc chạy. Cọp chạy bằng một chân trước với hai chân sau, một chân dính phân phải đưa lên trời để khỏi bị thúi. Nhưng cọp chạy về hướng xuôi gió, mùi hôi thúi cứ bay quận theo hoài. Cuối cùng cọp nhảy lững cững băng hai giò sau, cái tay còn lại đưa lên bụm mũi.
Cọp gấm chạy xa, bác Ba Phi đứng một mình suy nghĩ rồi cảm thấy sợ ngầm. Giống cọp hay thù vặt lắm ! Nhất định nó sẽ tìm cách trả thù. Nghĩ vậy, đầu óc bác Ba luôn ray rứt, suốt buổi phơi lúa bác không yên tâm. Bác moi óc tìm cách làm cho cọp tản thần một phen mà bỏ luôn cái thói thù vặt.
Qua câu chuyện truyền thuyết về Thị Cư đánh cọp ở ngã ba Tàu... làm cho bác Ba Phi thấm thía một bài học về quan điểm đối địch dứt khoát với kẻ thù. Bác lại nhớ về chuyện ông Tánh và con chó cò đánh cọp tại đường Thét Lãi...
Đó là một bài học thứ hai cho bác Ba Phi về cách đánh cọp, phải biết hợp đồng và đoàn kết, sống chết không bỏ nhau. Bác Ba lại nhớ thêm một chuyện ông Phò ở Cái Bác... và đây là một bài học thứ ba mà bác Ba Phi kết luận là “đánh rắn thì phải đánh cho giập đầu, đánh cọp thì phải đánh cho biết mặt”. Qua một loạt rút kinh nghiệm qua chuyện đời xưa, bác Ba cảm thấy yên tâm. Ông cha làm được thì mình làm được. Đã lỡ gây sự với cọp thì phải quyết một trận ăn thua cho tới nơi tới chốn, đừng để chúng dễ ngươi mà xấu hổ lương tâm với những người tiền bối.
Đêm ấy bác Ba nằm trằn trọc đến canh ba vẫn chưa ngủ được. Bác cứ nghiên cứu mãi xem có cách nào đánh con cọp gấm này một trận cho nhớ tới già. Con tắc kè trên đầu xông nhà cứ kêu từng hồi như ngầm hỏi thăm bác tính ra mưu chước gì chưa. Nhưng đến khoảng cuối canh ba, bác Ba vụt bật dậy vỗ đùi đánh đét và à lên một tiếng lớn. Ngủ mùng gần bên, thằng Đậu giật mình choàng dậy, hỏi dồn:
- Quạ bắt gà, gắp khô ban đêm, hả ông nội ?
- Quạ diều gì đâu, ông nội ngáp mà. Dậy nhóm cho ông nội bếp lửa, mau đi.
Thằng Đậu say ke sật sừ, đi làm nhưng nó cứ mắt nhắm mắt mở, cằn nhằn:
- Nửa đêm lại vỗ tay la “quạ” rồi cười. Có thèm trà thì kêu dậy nấu cho mà uống, la lối giật mình...
Thằng Đậu múc ấm nước định bắc lên bếp lửa, nhưng dừng lại hỏi:
- Nước trong bình thủy nguội hết rồi sao, nội ?
Bác Ba thấy thằng cháu định bắc ấm nước lên bếp, vội cản:
- Nước uống còn thiếu gì. Để bếp lửa đó cho ông.
Bác Ba lại đầu bếp bê cái nồi dầu chai lớn, è ạch bắc lên bếp lửa. Bác chụm lửa cho nồi dầu chai sôi ành ạch, phì bọt xì khói xanh, rồi với lên gác lấy cây giàn xay lúa xuống. Thằng Đậu lạ lùng khi thấy ông nội dùng cây nằm vít dầu chai phệt vào cán giàn xay, nó vọt miệng hỏi:
- Ông nội chơi vậy, rồi làm sao ngày mai mình nắm tay vào cán giàn xay mà xay lúa ?
- Ấy, mình không xay được thì có kẻ khác xay thế.
Chỉ nói vậy, bác Ba lại làm thinh, thằng Đậu càng ức, hỏi tiếp:
- Ai xay cũng vậy, càn giàn xay tô đầy dầu chai, nắm vào đó có nước mà điên, tay mắc cứng, xay luôn tới chiều không buông ra được.
Bác Ba vẫn giữ bí mật:
- Bởi vậy ông phải bắt kẻ khổ sai xay lúa bằng cây giàn xay cán có tô dầu chai.
Và bức màn bí mật ấy bác Ba Phi cứ giữ kín với thằng Đậu cho đến lúc trời sáng. Khi hai người dọn nia, nong, thúng, sàng, đệm, cối xay xuống xuồng, bác Ba Phi cũng cứ giữ bí mật. Bác bắt thằng Đậu khiêng chiếc giàn xay kỳ quặc kia để nằm ngang trên xuồng và kê kỹ đừng để cho dầu chai dính vào các thứ khác. Thằng Đậu dùng dằng thắc mắc. Đến vậy mà bác Ba vẫn giữ kín miệng như bưng.
Ra đến bờ đìa, ông cháu bác Ba trải đệm, đốn cây xốc nạng, khiêng cối xay lên, cột dây treo giàn và xúc lúa đổ vào cối, bắt đầu xay. Bây giờ bác Ba mới dặn thằng Đậu một câu rất tối nghĩa:
- Dù có gặp trường hợp nào, tỉ như sập trời mầy cũng phải đứng xúc lúa đổ vô cối, đừng bỏ chạy nghe Đậu !
Nói xong, bác Ba đứng vào chỗ xay lúa. Bác dùng hai lá môn bao cán giàn xay cho dầu chai khỏi dính tay rồi bắt đầu quay cối rào rào. Thằng Đậu xúc thúng lúa đứng hờm mé, thấy cối giựt lúa xuống thì châm thêm. Xay được mấy cối, hai ông cháu bỗng nghe có tiếng động sột soạt trong lùm ráng sau lưng. Thằng Đậu chưa biết gì cứ đứng ngớ người ra nhìn ông nội bằng cặp mắt lo lắng. Bác Ba nhìn cháu nội, cười để trấn an nó. Lúc ấy bác Ba càng đẩy giàn xay cho cối quay nhanh thêm. Chiếc cối quay, mắt bác Ba cứ liếc chừng vào lùm ráng sau lưng. Trong lúc chiếc giàn xay đẩy tới thụt lui thắng khói trong tay bác Ba thì từ trong lùm ráng dội lên một tiếng “à uôm” vang dậy. Một thân con cọp vằn vện bay vèo đến, chụp phủ lên người bác Ba Phi. Đã chuẩn bị đón tiếp đối phương suốt đêm, bác Ba không một phút chậm trễ, tràn người ngang thụp xuống ngồi dưới dạ cán chiếc giàn xay. Con cọp gấm hung hăng chụp hụt bác Ba, hai tay vớ phải cán giàn xay, không tài nào gỡ ra nổi. Cọp gấm tức tối lồng lộn, gầm rú om sòm. Bác Ba luồn lại sau lưng cọp, bung cho nó một đá vào đít. Trớn tay cối quay vòng kéo chiếc giàn xay chồm tới, thụt lui, con cọp bị lôi theo chồm tới, ghị lui. Kế tiếp bị một đá của bác Ba làm thốn đít, cọp càng chồm tới, ghị lui dữ tợn hơn. Thế là theo đà quay của cối lôi con cọp cứ chồm tới - ghị lui, chồm tới - ghị lui... Hai tay cọp dính cứng dầu chai ở cán giàn xay không tài nào gỡ ra được.
Bác Ba Phi chuyển giao công việc xay lúa cho cọp gấm xong, nhìn lại thấy thằng Đậu đứng chết trân, hồn vía nó đã bay lên mây từ hồi nào, cứ bưng thúng lúa đổ vãi nửa trong nửa ngoài. Bác Ba tươi cười bước đến vỗ vai Đậu động viên:
- Bình tĩnh lại, có ông nội đây !
Bây giờ thằng Đậu mới tỉnh hồn, gượng cười, trao thúng lại cho ông nội. Từ đó ông cháu bác Ba cứ thay phiên nhau xúc lúa đổ vô cối cho cọp xay.
Con cọp gấm xay lúa một hồi thấm mệt, đẩy kéo vòng quay hơi chậm lại. Thấy vậy bác Ba bảo thằng Đậu:
- Châm nhiên liệu thêm cho cái máy xay xát của mình, Đậu !
Thằng Đậu đi bắt một con ong vò vẽ đem lại cho nó chích vào trứng dái con cọp gấm. Con cọp bị ong đốt, lồng lên, chồm tới -giật lui nhanh hơn trước. Cứ như thế, khi thấy cọp hơi uể oải, thằng Đậu cho ong vò vẽ đốt vào dái nó một cái, và cười om lên:
- Tao châm thêm nhiên liệu nè !
Bác Ba Phi đương xúc lúa đổ vào cối cho con cọp xay đến hết hai chục giạ, nhưng nó vẫn còn hăng, cứ đứng quay vù vù cái cối không thôi.
Thấy bắt cọp làm khổ sai bao nhiêu đó cũng đủ rồi, bác Ba nắm mỏ giàn xay dở lên, đẩy lách sang một bên. Con cọp bị lỡ đà, đẩy chiếc giàn xay phóng tuốt xuống lung. Nhờ thấm nước, tay con cọp được tróc mớ dầu chai dính ở cán giàn xay. Cọp lội lõm bõm qua bên kia lung, vừa đi vào rừng vừa thở hổn hển.
Bác Ba Phi cùng thằng Đậu vỗ tay cười, kêu với theo:
- Một lần cho tởn tới già, bỏ thói thù vặt với ông cháu Ba Phi nghe chưa!



CÒN TIẾP....



ANH ĐỘNG

© CẤM ĐĂNG TẢI LẠI NẾU KHÔNG CÓ SỰ ĐỒNG Ý CỦA TÁC GIẢ


TRANG CHÍNH TRANG THƠ ĐOẢN THIÊN BIÊN DỊCH HỘI HỌA ÂM NHẠC