TÁC GIẢ
TÁC PHẨM




ANH ĐỘNG



. Tên thật Nguyễn Việt Tùng
. Sanh năm 1941 tại Vĩnh Thuận - Kiên Giang
. Hiên cư ngụ tại Thị Xã Kiên Giang
. Hội viên Hội Nhà Văn Việt Nam, Hội Văn nghệ Dân Gian Việt Nam

TÁC PHẨM ĐÃ XUẤT BẢN :

. Bác Ba Phi (tiểu thuyết)
. Bóng núi Tô Châu (tiểu thuyết)
. Xôn xao đồng nước (tiểu thuyết)
. Dệt chặng đường xuân
. Đường về Miệt Thứ (ca cổ).....








TIỂU THUYẾT


BÁC BA PHI - PHẦN I (1 & 2)

BÁC BA PHI - PHẦN I (3 & 5)

BÁC BA PHI - PHẦN I (6 & 7)

BÁC BA PHI - PHẦN II (8 & 9 & 10)

BÁC BA PHI - PHẦN II (11 & 12 & 13 & 14)

BÁC BA PHI - PHẦN II (15 & 16 & 17 & 18)

BÁC BA PHI - PHẦN III (19 & 20 & 21 & 22)

















































BÁC BA PHI


LỜI NGƯỜI VIẾT

Chuyện nguyên mẫu của bác Ba Phi chỉ nói về thiên nhiên giàu đẹp của xứ sở U Minh, nơi quê hương đang sống, nào rắn rùa, tôm cá, chim chuột tuyệt đối không có chuyện nào nói đến chiến tranh cả. Cuộc kháng chiến chống Mỹ mỗi lúc một ác liệt, chuyện bác Ba Phi mỗi lúc một phát triển đa dạng, lan truyền nhanh, nhân rộng theo những “kênh” đường dây giao liên, vận tải, theo đường hành quân, nơi ăn ở của bộ độ, cơ quan cách mạng. Cứ cái mô-típ gài cốt chuyện rồi tạo một thắt nút có kịch tính phóng đại nhảy vọt, mạnh ai nấy sáng tác rồi đổ thừa đó là truyện của bác Ba Phi. Có những “môn đồ” muốn thuyết phục người nghe còn thề bán mạng là chính mình ngồi giáp mặt bác Ba nghe kể chuyện vào trường hợp nào... nào đó, số môn đồ đó không loại trừ tôi.
Tôi nhớ không lầm, mãi cho đến những năm giặc bình định ác liệt, có nghĩa là vào đầu Việt Nam hóa chiến tranh, từ chiến trường 1C, tôi là người “đưa” bác Ba Phi tham gia vào chiến tranh.
Chiến trường ác liệt đến người ta tưởng tượng rờ đâu cũng đụng cái chết, gian khổ đến thân thể lính ta vào những mùa nước bị ghẻ lác loang lở từ “lỗ chiếu môn đến đỉnh ruồi”. Và đói khát, bệnh hoạn đến vàng da, rụng trọi tóc. Con người cần có tiếng cười như tim cần có máu. Phương tiện chiến tranh hiện đại của địch ở đây thường dùng áp đảo ta ngoài máy bay “cán gáo” còn pháo bầy, tàu binh các loại, trực thăng vận và xe lội nước. Để mượn bác Ba Phi giải tỏa bớt nỗi “ớn xương sống” các loại nầy ở lính ta, tôi nghiên cứu đưa bác ra hàng thế trận diệt chúng từ từ... Đến khi chấm dứt cuộc chiến tranh chống Mỹ, chuyện bác Ba Phi vẫn còn là văn học truyền khẩu, chưa thấy xuất hiện thành văn ở sách báo nào...
Có lần tôi thầm thì với bác Nguyễn Tuân về ý định muốn đưa chuyện truyền khẩu bác Ba Phi vào văn học. Bác Tuân khuyến khích ngay:

“Cậu mổ xẻ ông Ba Phi trên mảnh đất của cậu, bằng con dao của cậu rồi xào nấu với nguyên liệu riêng của cậu, nó sẽ trở thành một món đặc sản thích hợp khẩu vị bạn đọc hơn bất kỳ ai”...

- ANH ĐỘNG -




PHẦN III : ĐI SĂN

19 - 20 - 21 - 22




19- CHƯA VÀO RỪNG MÀ CON CHÓ ĐÃ LÂM TRẬN.

Vào mùa nước. Đêm. Rừng U Minh muỗi nhiều như vãi trấu, huơ tay qua đụng muỗi rào rào, hốt lại nắm một cái được mấy con. Ở đây quả là “muỗi kêu như sáo thổi”, nhưng đỉa thì tuyệt đối không có một con nào, chỉ có “cá lội lền như bánh canh” mà thôi. Đất U Minh toàn là phân mùn đen như than bởi vì chứa những lá mục lâu đời, phân bện lên trong rễ choại thành một lớp trấp dày đến mấy thước, xốp và êm như một tấm nệm muốt khổng lồ. Nước U Minh đỏ thẫm ngọt ngào, bụm lòng bàn tay cho nước vào miệng hớp uống nghe mát lạnh. Nước rừng uống không sôi bụng, pha trà không bị bán mùi vị.
Đêm U Minh lặng trang. Chỉ có tiếng muỗi kêu ong ong và tiếng cá đồng ăn móng lác đác. Thỉnh thoảng đâu đó vài tiếng đại bác nổ xa xa làm cho lũ cá đồng giật mình quẫy rộ lên đồng loạt làm xôn xao không gian. Kế tiếp là tiếng kêu của lũ chim cúm núm hoảng hốt.
Mặc dù trời đêm tối như bưng, nhưng ông cháu bác Ba Phi cứ ngồi bên chiếc cà-ràng nhóm bếp lửa cháy nhá nhem do những cục đất táng và những thanh củi lụt bốc lên. Thỉnh thoảng bác Ba huơ khăn đập muỗi lạch xạch. Thằng Đậu ngồi sát bên bếp lửa un, cào than nướng những con cá khô sặc bổi bằng bàn tay. Mùi khô nướng, tươm mỡ thơm lừng. Thằng Đậu trao những con khô nướng cho ông nội để ông ngồi nhấm nháp chung trà, phần nó với con chó Đuổi còn mấy con cá lóc nướng trui, chấm nước mắm ăn với tô cơm nguội. Trước lúc đi săn phải bỏ bụng người ba hột và cho chó vài chén. Thằng Đậu thường làm như vậy. Con Đuổi ngồi bên.thằng Đậu trông con chó có chửa gần ngày sanh với cái bụng lớn mà phát mệt. Nhà chỉ có một mình con Đuổi, đi săn phải đem nó theo. Mặc dù nó có chửa nhưng vẫn còn sõi, không kém những con chó tơ.
Lúc chân trời phía đông vừa hửng đỏ, có nhiều vệt mây đen đâm ngang, họ xuống xuồng. Bữa nay ông cháu bác Ba Phi đi săn bằng chiếc xuồng be tám cho gọn nhẹ. Bác Ba đứng cầm cây sào nạng chống sau lái. Thằng Đậu ngồi trước mũi dùng cây dầm nhỏ bơi phụ. Con Đuổi ngồi chồm hổm trên tấm lô mũi xuồng, mỏ luôn nghếnh lên và hướng về phía trước. Xuồng của ông cháu bác Ba đi ngược chiều nước. Nước cứ sủi bọt hai bên mép mũi xuồng trông tựa những ngọn lửa. Bác Ba để cây mác cán dài tựa cây thanh long đao ở cạnh chân. Thằng Đậu đầu đội chiếc nón vải rách chỏm thòi tóc ra ngoài một chùm. Cây dáo nhỏ xíu của nó cũng để kế bên đùi.
Mặt trời nhô lên vàng rực phía sông Đốc. Ông cháu bác Ba quay lưng về phía ánh nắng sớm mà chống xuồng ào ào. Xuồng đi qua kinh Đá Bạc và hướng mũi thẳng lên vùng rừng Dương Hòa. Xuồng qua hết xóm Cựa Gà, Xào Lưới, còn một ngôi nhà cuối cùng là của bác Hai Móm, người bạn thân thiết của bác Ba.
Thấy hai ông cháu bác Ba đi săn, bác Hai Móm chạy ra sân vẫy tay gọi:
- Ghé lại uống nước chút sẽ đi !
Hôm nay là ngày kỵ cơm của bác Hai gái, là bạn thân đi luôn lảng lắm ! Dân miệt rừng, nhất cận lân nhì cận thân. Bác Ba bảo thằng Đậu móc mũi xuồng bê vào. Thằng Đậu cùng con chó Đuổi nhảy phóc lên bờ. Bác Ba lên sau, nắm mũi xuồng kéo tuột cho nó gác nửa thân lên sân, kẻo để nước trôi. Hai ông cháu bác Ba cùng con Đuổi vào nhà. Thằng Đậu chạy xuống bếp chơi với lũ cháu ngoại, cháu nội của bác Hai Móm. Con Đuổi lấn quấn bên bàn hai ông già ở nhà trên.
Sau khi uống cạn chung trà, bác Hai Móm bảo bọn trẻ đem bánh ra mời khách lót bụng. Một dĩa bánh ít đầy vun, hai đòn bánh tét bự cỡ cườm chân với mấy cái bánh phồng nướng phồng mặt quỉ. Bác Hai Móm lấy một cái bánh ít trao tạân tay bác Ba, vồn vã:
- Ăn thử đi anh ! Nếu cò hương, dẻo ghê.
Hôm nọ vợ chồng thằng Tư quết bánh phồng nếp dính mắc đầu chày vào cối, đổ cả thùng nước rồi mới lấy nằm xeo gần hụt hơi mới gỡ ra được. Ăn thử coi !
Bác Ba còn chần chừ thì bác Hai lột một cái bánh ít, ăn trước. Bác Hai Móm đưa cái bánh vào miệng cắn lại, rồi cứ ngậm luôn, không thèm nói năng gì. Bác Ba thấy vậy bật cười, hỏi:
- Ra sao mà anh cứ ngậm nghe hoài vậy ?
Bác Hai ra dấu chỉ trỏ ngầm bảo bác Ba cứ ăn là khắc biết. Bác Ba chiều ý chủ nhà, lột bánh. Nhưng bột bánh dẻo quá cứ dình nhèo nhẹo vào đầu ngón tay. Bác Ba bực mình rẩy mạnh một cái, chiếc bánh văng lên dính vào cây xiên nhà.
Nãy giờ con chó Đuổi cứ đứng lông nhông chờ chủ liệng xương, thấy thế nó ngỡ là một miếng mồi béo bở, a thần phu nhảy lên táp cái bánh. Chẳng ngờ bánh dẻo quá, dính cứng hai hàm răng con chó, làm nó không há miệng ra được. Con Đuổi kêu ư ư và vùng vẫy quyết liệt. Nhìn con chó Đuổi bị treo tòn ten trên cây xiên nhà, bác Hai Móm vụt bật cười. Chiếc bánh ít trong miệng bác bay vèo ra mang theo hai hàm răng giả trúng đánh bốp vào chiếc tủ thờ kê giữa nhà. Con Đuổi trên xiên liếc thấy ngỡ là một mảnh xương to, liền quăng mình nhào theo chụp bắt. Nhờ vậy mà nó sứt khỏi chiếc bánh ít, rơi nguyên con xuống đất.


20- CON ĐUỔI ĐƯỢC SINH RA LẦN THỨ HAI.

Ông cháu bác Ba Phi dự xong đám kỵ cơm ở nhà bác Hai Móm, từ giã gia đình, tiếp tục chuyến đi săn. Lần này bác Ba cũng đứng sau lái cầm cây sào nạng chống tới, thằng Đậu cũng ngồi trước mũi cầm cây dầm nhỏ chực hờ để chỏi mũi xuồng ra khi bị đâm quàng vào lùm bụi. Con Đuổi nhóng cổ lên cao thêm, vì đã đến mé rừng, nó cần phải tạo tư thế bắt hơi tìm mùi thú lạ. Xuồng của ông cháu cứ đi ngược chiều nước, vào khu vực Dương Hòa. Những con kinh nhỏ mang đầy nước đỏ sậm từ rún rừng tháo ra bon bon, lôi theo từng về bèo tai tượng.
Xuồng qua hết kinh Dớn Cụt rẽ vào khu vực Dồ Dơi. Cứ thế ông cháu bác Ba chống miết. Xuồng qua một trảng trống đầy cỏ u du với môn nước. U du đã lên bông vàng sạm trông tựa một tấm thảm xơ dừa, môn nước thì xiên xiên những chiếc lá nghiêng lắt lẻo. Xuồng qua mé trảng, sắp vào một khu rừng dày rậm. Bỗng bác Ba rà sào dừng lại. Con Đuổi ngồi trước mũi xuồng đang bắt được hơi của con thú rừng gì đó. Mũi nó khịt khịt, đánh tiếng ăng ẳng trông băng hăng rất khó chịu. Hai chân trước của nó cào cào vào be xuồng như bảo dừng lại. Rồi con Đuổi nhảy phóc lên bờ tốc chạy ào ào vào bụi rậm. Ông cháu bác Ba Phi gác sào lên xuồng, thằng Đậu với tay cầm cây dáo, bác Ba cầm cây mác cán dài. Họ đã sẵn sàng tư thế lóng tai nghe khi nào con Đuổi “kêu thịt” là xuất kích ngay.
Nhưng một điều kỳ lạ ! Bữa nay tại sao có tiếng dông lớn từ phía rừng đưa ra ào ào dữ dội ? Liền theo đó, tiếng con Đuổi cất lên báo hiệu cầu cứu khẩn thiết ! Tiếng kêu ăng ẳng, ư ử của con Đuổi mỗi lúc một gần về phía ông cháu bác Ba đậu xuồng. Sau con chó là một ngọn trốt xoáy cuộn khủng khiếp tràn ra tới đám sậy gần bên. Con Đuổi ba chân bốn cẳng chạy bò càng. Ngọn trốt cuốn cỏ rượt theo, cả hai chạy gần tới trảng trống. Một hiện tượng vô cùng quái lạ ! Bác Ba đứng nhóng người lên xem. Con Đuổi chạy lọt qua trảng trống, chợt thấy xuồng của chủ, nó cất tiếng tru thê thảm, kéo dài, mệt nhọc và tuyệt vọng. Bác Ba vung mác định nhảy lên cứu con chó, nhưng bác chợt thấy trong giữa vực xoáy của cuộn trốt phía sau bất thần xuất hiện bóng dáng một chiếc ghe ngo dựng đứng và tiến tới băng băng. Dụi mắt rồi móc lấy cây kiếng đeo lên, bác Ba vội thét:
- Rắn hổ mây !
Thằng Đậu chồm lên nhìn theo hướng tay ông nội chỉ. Một con rắn hổ mây mình mẩy xám mốc có hai hàng vảy dưới bụng ửng đỏ hạt mây, thân hình nó lớn tựa một chiếc ghe ngo của người Khmer bơi đua trong mùa đưa nước. Con rắn nghển cổ, dựng đứng nửa thân cao bằng ngọn tràm, đang đuổi theo con Đuổi. Con Đuổi cố bươn chạy trối chết về phía xuồng của ông cháu bác Ba mong được chủ tiếp cứu. Con rắn phía sau cứ đuổi nà theo. Trước tình thế vô cùng nguy hiểm cho tính mạng con Đuổi, thằng Đậu nóng lòng xốc dáo định xông lên tiếp viện con chó. Nhưng không kịp ! Con rắn hổ mây đã đuổi tới và chỉ trong nháy mắt nó mổ xuống một cái. Con Đuổi biến đi đâu mất. Thế là con rắn hổ mây khổng lồ đã nuốt trọng con Đuổi vào bụng. Lúc nghển đầu lên, con rắn còn ngoạm theo một nùi cỏ cỡ ôm. Cỏ dính vào răng, con rắn phải rảy lia lịa cái đầu để nhả ra. Đôi mắt con rắn đỏ lừ, láo liên phản chiếu ánh sáng mặt trời. Vừa rảy mớ cỏ trong miệng, con rắn vừa lao tới chầm chậm ngay hướng đậu xuồng của ông cháu bác Ba Phi. Là một tay thợ rừng lão luyện, đứng trước tình thế nguy cấp, bác Ba Phi nhanh trí đối phó để bảo toàn mạng sống. Bác Ba nạt lớn:
- Nhảy xuống nước, lật úp chiếc xuồng lại, chun vào !
Thằng Đậu luống cuống đánh rơi cây dáo. Khi ông cháu bác Ba úp xuồng chui vào trốn bên trong, bác cắm cây mác dựng đứng dùng mũi chỏi lấy đáy xuồng. Tức thì một luồng gió ào ào lướt tới. Con rắn hổ mây trườn ngang qua chiếc xuồng đậy úp, ông cháu bác Ba Phi trốn bên trong. Chiếc xuồng từ từ lún xuống, ép sát mặt nước. Thằng Đậu bị ngập mũi, sặc nước ằng ặc, nhưng nó cố kềm mà không hề la. Bỗng dưng chiếc xuống lún mạnh một cái, làm mũi mác của bác Ba Phi đâm thủng tấm ván đáy xuồng, xuyên trổ lên trên. Đồng thời lúc ấy ông cháu bác Ba Phi nghe một tiếng “xoạt” kéo dài, rồi sau đó chiếc xuồng nổi bật lên, và không nghe tiếng động nào nữa. Hai ông cháu định núp trong xuồng thêm chút nữa, đợi cho con rắn bò thật xa mới ra.
Nhưng thằng Đậu trợn mắt bảo:
- Nghe kìa ! Dường như có tiếng sặc nước của con chó.
Bác Ba lắng nghe và đồng ý với nhận xét của thằng Đậu. Hai ông cháu lật xuồng chun ra. Một đường cỏ lướt của con rắn bò từ bên kia trảng cỏ chéo qua chiếc xuồng rồi dẫn đi luôn. Con chó Đuổi mình mẩy đầy nhớt nhau, lóp ngóp vừa bò dậy vừa hắt hơi. Những miếng mỡ rắn lớn bằng lá môn nổi lềnh bềnh đầy mặt nước. Ơi ! Thật là khủng khiếp ! Cái mũi cây mác của bác Ba xuyên thủng đáy xuống còn chỏi dựng đứng. Thằng Đậu xem kỹ mũi mác, nó vụt kêu lên:
- Máu, ông nội ơi !
Bác Ba Phi chồm tới xem. Rõ ràng là máu. Ngẫm nghĩ một lát, bác Ba xem kỹ mũi mác, nó láng lẫy như được lau bằng mỡ ? Bác Ba vỗ tay đánh đét, cười lớn:
- Con rắn bò ngang, thân nặng quá đè lủng chiếc xuồng làm mũi mác xuyên lên, rạch toạc lớp da bụng rắn, mỡ tuôn ra cả đống như vậy đó.
Thằng Đậu nghe ông nội dẫn giải nó vỡ lẽ ra. Sau khi rắn hổ mây nuốt trọng con chó Đuổi, vướng mũi mác, bị rạch toạc bụng đổ luôn con Đuổi trở ra.
Con Đuổi bây giờ đã hồi tỉnh, sức khỏe của nó hồi phục như lúc mới xuống xuồng ra đi. Ông cháu bác Ba Phi lật ngửa chiếc xuồng lại, tát nước, rú lưỡi mác ra, dùng rễ cây mớp xảm lỗ lủng rồi tiếp tục cuộc đi săn.


21- LŨ CÁ TRÊ KHÔNG CÔNG MÀ ĐƯỢC HƯỞNG.

Hai ông cháu bác Ba đã vào sâu trong rừng xanh, không còn đường nước để chống xuồng đi nữa, đành phải đậu xuồng, dắt con chó Đuổi đi bộ.
Lớp phân mùn được rễ choại bện lên thành trấp dày và cao ráo, bước đi phập phình tựa nhún trên nệm muốt. Đường đi phải vượt qua những đám dớn cao tận cổ, mọc dầy đặc. Qua hết trảng dớn thì lọt vào vùng gộp choại. Choại mọc chằng chịt thành lùm quanh những cây tràm, cây buồi, cây trâm lớn, có độ cao đến trên mười mét. Mặc dù gian nan nhưng thằng Đậu không nản chí. Ông nội bảo là vùng này thế nào cũng gặp nai. Đậu mơ ước gặp những con nai chà đầu có hai chùm gạc tựa tay san hô, bốn chân cao như bò, mình vàng óng, vừa chạy vừa kêu “bét, bét”, mũi thở phì phò. Đậu sẽ chạy chận, cân mũi dáo “tra dáo đầu” để ông nội tặng chiếc đầu nai giữ đúng luật giang hồ của những phường săn. Vào những ngày tết, Đậu sẽ dùng chiếc xương đầu nai, đem ra thay cho đầu lân cùng bạn bè nhảy múa. Ơi, tự hào biết mấy. Đó là niềm kiêu hãnh của một thợ rừng tương lai.
Trước mắt Đậu cứ mơ màng thấy một con nai chà, mình vàng óng từ đâu bất thần xuất hiện, làm cho đôi tay thỉnh thoảng cân cân cây dáo lên với tư thế sẵn sàng lao vào kẻ địch. Bỗng phía trước con Đuổi khịt mũi mấy cái. Con chó đánh hơi thấy mùi nai rồi. Thằng Đậu sửa bộ đi, cân dáo đưa mũi về phía trước. Nhưng phía ấy là tấm lưng rộng của ông nội nó đang chắn ngang, sợ có chuyện gì ông lùi lại bất tử mũi dáo sẽ lụi vào lưng. Nghĩ vậy, nó quay mũi dáo về hướng khác.
Con Đuổi đã tốc rượt “mồi”. Thằng Đậu nôn nao trong bụng, hối ông nội chạy rút theo con chó. Nhưng nội quay lại thì thào:
- Mầy núp ở đây, để ông nội lội vượt qua bên kia chận đầu. Chắc con nai chà này bự lắm.
Bác Ba Phi đi rồi, còn một mình thằng Đậu ngồi núp trong lùm choại mà run cầm cập. Tại sao lúc đi bên ông nội thì thấy vững trân, bây giờ ngồi một mình nghe lạnh lưng quá ? Biết đâu không gặp nai mà gặp heo nọc chảng thì sao ? Thứ heo nọc tách bầy này hung hăng không nể nang cả cọp nữa kìa. Lưng nó cao tới trán người lớn, lông gáy xừng lên tựa lông nhím, mỏ dài, tạp bộp bộp đổ bọt mép. Nọc chảng đi tới đâu là mài nanh vào nhau ken két tới đó, da nó dày tựa da voi, không có dáo mác nào đâm cho thủng. Nghĩ đến đây máu trong người thằng Đậu dồn nóng cả mặt, lỗ tai nó lùng bùng, đôi mắt hoa lên, mình mẩy nghe nhẹ re. Đậu cầm cây dáo lên, cặp thật chặt vào hông, nhưng nó run quá, dáo trên tay cứ gục gặc chúi xuống hoài. Cái ý nghĩ “tra dáo đầu” và dùng đầu nai thay cho đầu lân để múa vui vào dịp tết nguyên đán của thằng Đậu đã tan đi đâu mất.
Ngồi một lúc, thằng Đậu bỗng nghe ông nội nó la, tiếng con Đuổi sủa vơi vơi từ xa. Lại có tiếng nai kêu bét bét nữa ! Không biết sức mạnh từ đâu kéo về, thằng Đậu nghe mặt mình nóng ran, trong bụng hầm hơi hừng hực.
Đậu đứng dậy cân mũi dáo thủ thế chờ xáp chiến cho biết vàng đá. Tay chân thằng Đậu ngứa ngáy, thằng Đậu thử dượt một đường dáo gia truyền. Nó lui lại ba bước, cầm phân đôi cán dáo, chân sau hơi rùn xuống rồi bất thần vọt tới đâm vào thân cây mớp trước mặt. “Sát”. Thằng Đậu thét lên một tiếng, cú đâm vừa thẳng đà, thì nó lẹ làng nghiêng mình bật đầu ra, chọt giò lái về phía đối thủ. Rồi nhanh như chớp, thằng Đậu ngả mình ôm gọn cây dáo vào lòng lăn một vòng và thọc ngược mũi dáo lại phía sau một lần nữa. Thế trước gọi là thế “Liên hoàn dáo”, thế này gọi là “Hồi mã dáo”.
Đang dượt võ lăng xăng, bỗng thằng Đậu nghe tiếng ông nội nó thét:
- Con nai chạy đâm đầu lại hướng mày đó, Đậu !
Vừa nghe tiếng ông nội kêu thì thằng Đậu cũng vừa phát hiện được tiếng chạy ào ào của con nai đang lướt tới. Vọt ra khỏi lùm choại, thằng Đậu trông thấy ngay một con nai chà mình mẩy vàng óng như một con bò mộng từ đằng kia chạy đâm sầm lại. Con nai nhảy sải sải, cổ nghển lên, mỏ đưa thẳng về phía trước, hai chùm gạc xuôi về phía sau cho khỏi cản trở dây nhợ, lùm bụi. Vèo một cái,thằng Đậu vừa nheo mắt chưa kịp thủ thế, thì con nai đã lướt ngang qua mặt nó tựa một luồng trốt xoáy. Đậu hoảng hốt nhắm mắt lại, đâm bừa mũi dáo theo hơi gió vừa quật qua. Mũi dáo của nó cắm bập, có lẽ nhằm vào đùi con nai. Chưa kịp mở mắt Đậu thét lên:
- Trúng rồi !
Nhưng khi nhìn kỹ thằng Đậu thấy mũi dáo của mình cắm vào một thân cây mớp trước mặt. Con nai chà đã chạy khỏi hàng công đất. Bác Ba cùng con đuổi ào tới. thằng Đậu mắc cỡ bẽn lẽn, gỡ mũi dáo, đuổi theo ông nội.
Vừa chạy vừa thở hào hển, bác Ba Phi quay lại nói với Đậu:
- Ông nội đã khấc nhượng con nai này hết một chân rồi. Lúc nãy mầy thấy nó chạy có co một chân sau lên đó không ?
- Có, có ! Con thấy máu đỏ theo đường nữa.
Thằng Đậu nhanh nhẩu trả lời để chứng tỏ rằng mình rất bình tĩnh lúc con nai chạy ngang để lấy oai với ông nội. Trót nói ẩu, thằng Đậu đặt chuyện nói dóc thêm:
- Con nai vừa chồm tới, từ trong lùm con vọt ra, tra một dáo tận mạng vào đùi nó. Con nai chạy bại bại đó, ông nội có thấy không ?
- Thấy ! - Nếu trả lời không thấy thì hóa ra mình đuổi xa lơ phía sau con nai ? Bác Ba buộc phải nói dóc thêm - Cháu nội của ông giỏi lắm ! Bắt được nai về ông sẽ thưởng cho mầy cái đầu.
- Cái đầu nai phải là phần thưởng của ông nội mới đúng chớ, vì ông nội đã khấc nhượng trước mà.
Thằng Đậu biết mánh của ông nội, nó nói vậy để hốt giò ông chơi. Nó nói vừa dứt đã thấy ông nội sượng bộ ngay. Ông ậm à:
- Ừ há ! Thôi thì... thưởng cho ai cũng được thôi.
Bác Ba rất khó xử trong trường hợp này. Nếu nhận lời lãnh cái đầu nai thì trái với luật phường săn, vì mình chẳng có công “tra dáo đầu”, còn không nhận hóa ra mình thừa nhận rằng cú khấc nhượng nai chỉ là nói gạt cháu nội hay sao ? Thật là bác Ba đang đứng giữa hai chuyện nói dóc, rướn tới càng dóc, thụt lui thì lộ dóc. Riêng thằng Đậu đã là huyết thống trong nhà, nghe cái kiểu nói của ông nội, nó suýt bật cười. Nó hiểu cái vết “khấc nhượng” nai của ông nội cũng không “sâu” gì hơn nhát đâm mũi dáo vào đùi của nai bao nhiêu. Thằng Đậu khen thầm ông trời khéo sanh ra hai ông cháu nó thật là ăn ý với nhau.
Ông cháu bác Ba Phi và con Đuổi cứ rượt nà theo con nai chà. Đuổi một hồi con nai bị sa xuống cái bàu rộng. Hai ông cháu cả mừng, suỵt con Đuổi áp đến bao vây. Cái bàu hình bầu dục đựng đầy nước sóng sánh, rộng độ nửa mẫu tây. Bác Ba ở bên này cầm mác rừng, thằng Đậu ở mé kia, cứ xách dáo chạy đón đầu con nai mỗi khi nó muốn trèo lên bờ.
Con Đuổi hăng hái nhất, nó đuổi theo khít nút, sủa gâu gâu tác động tinh thần con nai lội dưới bàu, làm nai lính quýnh cứ lội qua bên này rồi tạt lại bên kia. Hễ nai dâm đầu về phía bờ tay phải thì con Đuổi phối hợp với bác Ba tràn tới chặn đầu, nai tạt qua bờ phía tay trái, cũng con Đuổi với thằng Đậu cân dáo, “gâu gâu”. Nai lại dạt ra. Nai cứ lội lẩn quẩn không biết đường nào thoát được lên bờ. Ông cháu bác Ba nhất định không để cho con nai chạy vuột.
- Nó lội ngay qua đó ! Tra một dáo đi con !
Tức thì thằng Đậu chạy tới vung dáo làm con nai hoảng hồn quay lại, lội qua bờ phía phải. Thấy thế thằng Đậu lại la lên:
- Nó lội ngay qua đó ! Dứt một mác đi ông nội !
Hai ông cháu cứ chạy vòng vòng mà đón, mà hô hào. Con nai chà hết lội qua bên nầy lại bung qua phía bên kia, nhưng không thể thoát vòng vây của ông cháu bác Ba Phi và con Đuổi. Tuy bác Ba mệt phờ râu, thằng Đậu thở bằng lỗ tai, con Đuổi thè lưỡi, nhưng họ quyết chí không bỏ cuộc.
Con nai chà lội trầm mình dưới bàu nước lâu quá, sức lực mỗi lúc một đuối. Ban đầu lưng con nai còn nổi trên mặt nước, miết rồi nó chỉ còn ngước được cái đầu lên, toàn thân chìm nghỉm trong lòng nước. Bấy giờ dường như con nai không còn biết sợ ông cháu bác Ba với con Đuổi là gì. Nó ung dung lắc lắc cái đầu, rung rung hai gạc, nhúc nhích hai tai, giật giật cái mỏ nhích nhè nhẹ tới tựa đang tắm mát chứ không cần đếm xỉa đến những đối thủ đang săn đuổi mình. Rồi nai cũng bất kể là ngay trước mặt có bác Ba Phi cầm cây mác rừng lưỡi sáng dới, nó từ từ đâm đầu “trôi” vào bờ sát chân ông đang đứng. Bác Ba đinh ninh là con nai đã đuối sức quá rồi định phải chịu phép, nên cũng chẳng cần đâm chém nó làm chi. Bác chờ khi cái đầu con nai chà ngúc ngắc rề sát lại, liền với tay nắm lấy hai gạc kéo xểnh lên.
- Ối, trời đất ơi !
Bác Ba Phi kêu lên một tiếng kinh ngạc, bật ngửa ra. Thằng Đậu chạy tới, nó cũng ném dáo, kêu “ứ hự” bằng đường mũi rồi buông mình ngồi xuống trấp choại đầy vẻ bất nhẫn. Con nai chỉ còn là một đùm ruột dính lòng thòng theo cái đầu, còn toàn bộ thịt thà, xương xóc của nó nãy giờ bị lũ cá trê dưới bàu bu vào rỉa sạch trọi. Sở dĩ ông cháu bác Ba vẫn thấy chiếc đầu con nai cứ động đậy là vì bầy cá trê bám vào phía dưới, chúng vừa rỉa thịt nai vừa đầy tới. Bác Ba lôi chiếc đầu và chùm ruột con nai lên, kéo lên theo hàng chục ký lô cá trê, con nào con nấy ú nu, vàng nghệ.


22- CHIẾC GHE CÓ NHỮNG CÂY CỘT BUỒM KỲ LẠ.

Bây giờ chẳng lẽ về không, bác Ba Phi ném đầu con nai vào bụi, thế rồi hai ông cháu dắt con chó Đuổi đi sâu vào rừng xanh thêm một chập nữa. Con Đuổi dẫn đầu, ông nội cầm cây mác rừng đi kế, thằng Đậu cân mũi dáo theo sau. Đến một trảng dớn trống, ngọn bằng, từng cọng suôn óng ken nhau như đám mạ trải rộng mút tầm mắt, làm cho thằng Đậu mê ly. Từng cơn gió lùa qua, trảng dớn mịn màng gợn sóng trông vui như chúng đang vẫy gọi, đón chào và cười đùa với đoàn khách lạ. Bỗng con Đuổi đánh hơi được một sự nguy hiểm nào đó, nó lẩn quẩn quanh chân bác Ba, kêu ư ử. Con Đuổi cứ cụp đuôi và xếp tai ra chiều lo âu. Bác Ba là người từng trải, không thể không quan tâm đến hiện tượng này. Bác bảo thằng Đậu đứng lại. Sau một hồi suy nghĩ, bác Ba nhất định chọn một chỗ để nấu cơm ăn. Vì trời đã trưa rồi, hai ông cháu cảm thấy đói bụng.
Thằng Đậu ngồi bên cạnh, con Đuổi ngồi bên chân bác Ba Phi đang sửa soạn nấu cơm. Bác Ba lột chiếc khăn choàng tắm đang bịt khấc trên đầu, trải ra, để gạo vào, quấn chiếc khăn lại thành một cục. Thằng Đậu thấy vậy lấy làm lạ, hỏi:
- Túm gạo vô khăn chi vậy ông nội ?
- Chiếc khăn thay cho cái nồi nấu cơm.
- Nhưng ông nội nấu cơm bằng chiếc nồi vải, lửa cháy mất còn gì?
Mặc cho thằng Đậu hoài nghi, bác Ba cứ lặng thinh. Bác dạy con cháu bằng thực tiễn: cái gì chúng thấy lạ, muốn học thì cứ theo dõi mà học, nhất định không dạy lý luận suông. Bởi vậy thằng Đậu cứ ngồi nhìn. Bác Ba dùng mũi mác cắm sâu vào lớp đất mùn, rọc thành một vòng tròn rồi khoét lấy một khối lớn đất bằng cái tĩn đựng nước mắm, bỏ ra ngoài. Bác tiếp tục moi đất tạo thành một cái hố tí hon có chiều sâu độ một gộc tay. Chốc sau, nước rừng đỏ au từ bốn phía rịn vào cái hố nhỏ của bác và không lâu, nước lên đầy lòng hố. Sau đó bác Ba cho túm gạo xuống để ngập nước thiêm thiếp mặt khăn, rồi bệt bùn tô lên dày độ một lóng tay. Cái giếng nhỏ mới đây đã trở thành cái mồ chôn bọc gạo.
- Bây giờ ông cháu mình đi bẻ nhánh cây khô chất lên trên cái "nấm mồ gạo" này, nổi lửa đốt một hồi sẽ có cơm ăn.
Bác Ba phủi phủi tay cho lớp đất mùn rơi đi. Thằng Đậu mới ngớ người ra, và hiểu cái cách nấu cơm thời thượng cổ của ông nội nó. Đậu vỗ tay khen:
- Ông nội tài tình hết cỡ !
Được cháu nội khen, bác Ba mỉm cười sung sướng:
- Ở cái miệt này, trong đời sống hàng ngày con người phải luôn moi đầu óc ra tạo mọi điều kiện thích nghi để đối phó với thiên nhiên, với thiếu thốn.
Ông cháu bác Ba Phi bỏ củi khô xếp đống. Chốc sau thằng Đậu gộp lại mọt bó ôm về để chỗ cái mả chôn túm gạo. Sau đó bác Ba trở vô nổi lửa lên nấu cơm. Thằng Đậu còn phải ở lại bẻ thêm củi.
Thấy chỗ gốc cây trâm có nhiều nhánh khô gãy rụng, thằng Đậu rề lại lượm. Đang lom khom, bỗng Đậu nghe có tiếng động trên tán cây. Giật mình nhìn lên. Đậu thấy một con trúc lớn, vảy đen ô đang moi ổ kiến mà ăn. Tế là nhà ngươi nộp mạng cho ông rồi ! Thằng Đậu nghĩ thầm, cầm một que củi rón rén đến gần phang mạnh vào con trúc, hô lớn:
- Chết mầy chưa ?
Tức thì một cục tròn vo bằng trái dừa khô từ trên ngọn cây trâm rơi xuống cái đụi trước mắt thằng Đậu. Đậu nhảy lại ôm gọn con trúc vào lòng. Ở rừng U Minh này loại trúc thường hay đi bươi phá tổ kiến, nó giương vảy cho kiến bám vào thật nhiều rồi xếp lại, chạy đo tìm bàu nước lạn xuống xòe vảy ra, khi kiến nổi lên mặt nước thì trúc nổi lên theo, vớt kiến mà ăn.
Thằng Đậu ôm con trúc chạy về khoe với ông nội:
- Tại sao người ta nói hai cái rế nhắc nồi phá được bùa giải tỏa của con trúc, hở nội ?
- Có bùa phép gì đâu. Khi con trúc cuốn tròn, người ta bó vào hai cái rế ốp lại vừa khít, trúc làm sao bật đầu ra được mà tìm cách trốn chạy ? Mặc dù bốn chân trúc có nhiều móng bén, nhưng khi toàn thân bị co tròn, trúc thò chân ra cào cấu lọt theo lỗ mặt rế, chỉ bươi vào khơi khơi không có điểm tựa. Thế là trúc đành chịu chết vậy.
- Vậy sao người ta nhốt trúc trong cái lu, úp trên bộ ván gõ, trúc cũng dùng bùa giải tỏa mà chui ra được.
- Đầu trúc nhỏ, mỏ trúc nhọn, vảy trúc đóng xuôi và trơn. Bình thường trông như thân trúc tròn, chứ khi trúc chui ra chỗ hẹp thì dẹp lép. Khi đầu trúc dùi ra được, với bốn chân có móng sắc cứ bấu chắc lôi thân mình tới, trúc sẽ lọt ra ngoài. Bởi người ta thường nói "đầu xuôi đuôi lọt" là chỗ đó.
Thằng Đậu không chất vấn ông nội nữa, ném con trúc xuống trước mặt bác Ba, rồi chạy đi:
- Cho ông nội "trái dừa khô" đó !
Bác Ba cười khà khà !
Vậy là có mồi nhậu rồi.
Thằng Đậu đi bẻ thêm củi khô. Con Đuổi có vẻ mệt vì trải qua một buổi vất vả, cứ nằm lì đưa mỏ hửi hửi con trúc.
Bác Ba dùng một lá chuối nước khung lại thành hình chiếc gàu, cắt cổ con trúc cho huyết chảy vào đó. Bác Ba bẻ nhánh trâm làm đũa, đánh cho huyết sủi bọt, gạt bỏ một số huyết đông thành những sợi chỉ. Đoạn bác móc túi lấy một bọc giấy kiếng có đựng mấy viên thuốc "men pha rượu". Bác dùng một viên bỏ vào tô huyết trúc, khuấy sơ qua, chén huyết bốc hơi nghi ngút, tỏa mùi thơm ngát, bác Ba bưng huyết uống hết nửa tô, dành phần còn lại cho thằng Đậu. Thứ huyết trúc uống bổ phải nói: Chí cường lực tăng ! Xây xẩm mặt mày, vàng da thiếu máu uống vô là hồng hào tươi trẻ. Sau đó bác Ba xô xác con trúc vào ngọn lửa thui cho thật đều rồi tuột bỏ lớp áo giáp của nó. Chỉ trong một loáng, bác mổ rửa sạch sẽ, chặt thân con trúc ra làm tư, dùng nhánh trâm xiên ngang, khơi than, kê lên bếp nướng.
Trong lúc bác Ba Phi lui cui làm thì ngoài trảng dớn, thằng Đậu vác một ôm củi chạy vào, gọi thất thanh:
- Ông nội, ra xem này !
Chạy chưa tới, thằng Đậu quăng ôm củi bừa xuống bên ông nội, mặt mày nó xanh mét cắt không còn chút máu. Đậu nắm tay ông nội lôi ra trảng, vừa thở hào hển vừa bảo:
- Ông nội xem kìa ! Có một thân cây ngả nằm dưới dớn lớn bằng chiếc ghe ngo, còn mấy nhánh chà ló lên, con định bẻ vô chụm nhưng bẻ hoài không gãy.
Bác Ba còn phải quay lại trở mấy miếng thịt trúc trên lửa cho chín đều. Bác thủng thẳng bảo:
- Thì vậy có gì lạ đâu ?
- Lạ ở chỗ thân cây có một lớp vỏ mềm mại, trơn chuồi mà lại dai nhách.
Bác Ba nghe mà tức cười. Nhưng bác cũng chiều ý cháu, theo nó ra trảng để xem thử. Bác Ba ngẫm nghĩ và bảo thầm:
- Hay là loại ghe Ô, ghe Sa thời giặc Xiêm La đánh thua Nguyễn Huệ chúng bỏ lại, có thể họ bọc một lớp nhung hóa chất gì đó nên chưa mục, bởi vậy thằng Đậu bảo vừa mềm vừa trơn và vừa dai chớ gì.
Con Đuổi chạy theo bên chân hai ông cháu, nhưng dọc đường nó vụt kêu lên ăng ẳng rồi cúp đuôi, xếp tai nằm mẹp không đi nữa. Lấy làm lạ, bác Ba đến nâng bổng bốn chân nó dậy, con Đuổi mới chịu đi tiếp. Nhưng nó cứ luấn quấn bên chân hai ông cháu bác Ba và bộ tướng rất cóm róm. Cách vài mươi thước tới chỗ thân cây đổ, con Đuổi nhất định nằm lại và rên la thảm thiết. Bác Ba nổi giận bỏ con Đuổi lại, dắt thằng Đậu đi tới. Bác lầm bầm mắng con chó là đồ "bể rừng". Con Đuối thấy chủ cứ đi tới, nó lăn ra giữa đường, kêu la dường như là bảo chủ phải dừng lại ngay. Thấy con chó làm kiểu kỳ lạ, bác Ba sinh nghi, bảo thằng Đậu trở lại chỗ nấu cơm lấy vũ khí ra. Bác tin rằng ngoài trảng dớn cao chưa qua đầu thì chẳng có gì phải nguy hiểm. Có lẽ con Đuổi gần ngày sanh con, tinh thần hay hoảng loạn, và vừa rồi nó mới bị rắn hổ mây nuốt nên ê ẩm cả người. Mặc cho con Đuổi kêu vang, bác Ba lượm cây mác xốc tới, thằng Đậu cầm mũi dáo theo sau. Đến gần mục tiêu, thằng Đậu ra dấu cho ông nội dừng lại. Đậu chỉ thân cây để cho ông nội xem. Bác Ba mọp người, móc túi lấy cây kiếng đeo lên mắt, nhìn. Thân cây ngả nằm khuất dưới lớp lá dớn khô, chỉ có mấy nhánh trùi trũi nhô lên lấp ló. Bác Ba men tới thêm mấy bước nữa. Chợt bác đứng lại, phì cười:
- Mấy cái chà gạc nai !
Thằng Đậu chưa thật tin, chạy lại rờ xem. Quả thật, bốn cặp chà gạc nai từ trong thân cây chỉa lên. Lạy trời ! Thân cây thì làm sao trổ ra chà gạc nai được ? Tức mình, thằng Đậu đâm một dáo vào thân cây. Bất thần Đậu bật ngửa ra lăn tròn mấy vòng tới bên chân ông nội, hước hơi lên mấy cái gần như sắp chết giấc. Bác Ba vội ôm đứa cháu trấn tĩnh nó:
- Bình tĩnh, có ông nội đây !
Mặc cho ông nội động viên, thằng Đậu cũng cứ la ú ớ, vì nó khiếp đảm quá mà thất thần á khẩu. Một lúc thật lâu mới hổn hển, thét lên:
- Con rắn hổ mây nằm kia kìa !
Bác Ba không tin, bảo:
- Loài rắn hổ mây không bao giờ nằm đầu sát mặt đất, kể cả lúc chúng ngủ cũng dựng đứng nửa thân lên.
Sợ cháu không tin, bác Ba dắt nó đến bên mấy bộ chà gạc nai bảo xem kỹ lại để chứng minh lời mình nói là sự thật. Bây giờ thằng Đậu mới có dịp xem kỹ hơn. Quả là một con trăn gió nằm chình ình khuất dưới lớp lá dớn, thân hình to bằng một cây cổ thụ. Vậy mà nãy giờ cứ ngỡ một thân cây đổ ! Con trăn gió đã nuốt một lượt bốn con nai vào bụng, gạc nai đâm thủng lưng xuyên ra ngoài lởm chởm. Nghe có tiếng động, con trăn từ từ bỏ đi, trông nó như một chiếc
ghe có những cột buồm kỳ lạ.

_______________________________________________________________



CÒN TIẾP....



ANH ĐỘNG

© CẤM ĐĂNG TẢI LẠI NẾU KHÔNG CÓ SỰ ĐỒNG Ý CỦA TÁC GIẢ


TRANG CHÍNH TRANG THƠ ĐOẢN THIÊN BIÊN DỊCH HỘI HỌA ÂM NHẠC