TÁC GIẢ
TÁC PHẨM




ANH ĐỘNG



. Tên thật Nguyễn Việt Tùng
. Sanh năm 1941 tại Vĩnh Thuận - Kiên Giang
. Hiên cư ngụ tại Thị Xã Kiên Giang
. Hội viên Hội Nhà Văn Việt Nam, Hội Văn nghệ Dân Gian Việt Nam

TÁC PHẨM ĐÃ XUẤT BẢN :

. Bác Ba Phi (tiểu thuyết)
. Bóng núi Tô Châu (tiểu thuyết)
. Xôn xao đồng nước (tiểu thuyết)
. Dệt chặng đường xuân
. Đường về Miệt Thứ (ca cổ).....








TIỂU THUYẾT


BÁC BA PHI - PHẦN I (1 & 2)

BÁC BA PHI - PHẦN I (3 & 5)

BÁC BA PHI - PHẦN I (6 & 7)

BÁC BA PHI - PHẦN II (8 & 9 & 10)

BÁC BA PHI - PHẦN II (11 & 12 & 13 & 14)

BÁC BA PHI - PHẦN II (15 & 16 & 17 & 18)

BÁC BA PHI - PHẦN III (19 & 20 & 21 & 22)

BÁC BA PHI - PHẦN III (23 & 24 & 25 & 26)

















































BÁC BA PHI


LỜI NGƯỜI VIẾT

Chuyện nguyên mẫu của bác Ba Phi chỉ nói về thiên nhiên giàu đẹp của xứ sở U Minh, nơi quê hương đang sống, nào rắn rùa, tôm cá, chim chuột tuyệt đối không có chuyện nào nói đến chiến tranh cả. Cuộc kháng chiến chống Mỹ mỗi lúc một ác liệt, chuyện bác Ba Phi mỗi lúc một phát triển đa dạng, lan truyền nhanh, nhân rộng theo những “kênh” đường dây giao liên, vận tải, theo đường hành quân, nơi ăn ở của bộ độ, cơ quan cách mạng. Cứ cái mô-típ gài cốt chuyện rồi tạo một thắt nút có kịch tính phóng đại nhảy vọt, mạnh ai nấy sáng tác rồi đổ thừa đó là truyện của bác Ba Phi. Có những “môn đồ” muốn thuyết phục người nghe còn thề bán mạng là chính mình ngồi giáp mặt bác Ba nghe kể chuyện vào trường hợp nào... nào đó, số môn đồ đó không loại trừ tôi.
Tôi nhớ không lầm, mãi cho đến những năm giặc bình định ác liệt, có nghĩa là vào đầu Việt Nam hóa chiến tranh, từ chiến trường 1C, tôi là người “đưa” bác Ba Phi tham gia vào chiến tranh.
Chiến trường ác liệt đến người ta tưởng tượng rờ đâu cũng đụng cái chết, gian khổ đến thân thể lính ta vào những mùa nước bị ghẻ lác loang lở từ “lỗ chiếu môn đến đỉnh ruồi”. Và đói khát, bệnh hoạn đến vàng da, rụng trọi tóc. Con người cần có tiếng cười như tim cần có máu. Phương tiện chiến tranh hiện đại của địch ở đây thường dùng áp đảo ta ngoài máy bay “cán gáo” còn pháo bầy, tàu binh các loại, trực thăng vận và xe lội nước. Để mượn bác Ba Phi giải tỏa bớt nỗi “ớn xương sống” các loại nầy ở lính ta, tôi nghiên cứu đưa bác ra hàng thế trận diệt chúng từ từ... Đến khi chấm dứt cuộc chiến tranh chống Mỹ, chuyện bác Ba Phi vẫn còn là văn học truyền khẩu, chưa thấy xuất hiện thành văn ở sách báo nào...
Có lần tôi thầm thì với bác Nguyễn Tuân về ý định muốn đưa chuyện truyền khẩu bác Ba Phi vào văn học. Bác Tuân khuyến khích ngay:

“Cậu mổ xẻ ông Ba Phi trên mảnh đất của cậu, bằng con dao của cậu rồi xào nấu với nguyên liệu riêng của cậu, nó sẽ trở thành một món đặc sản thích hợp khẩu vị bạn đọc hơn bất kỳ ai”...

- ANH ĐỘNG -




PHẦN III : ĐI SĂN

23 - 24 - 25 - 26




23- CON ĐUỔI VÀO TRẬN LÀM BÀI TOÁN NHƠN.


Sau khi ăn cơm với thịt trúc no nê một trận, ông cháu bác Ba cương quyết dắt con Đuổi đi sâu vào rừng thêm một đỗi nữa. Con Đuổi lúc này hăng hái lên, tuôn lùm, ruồng bụi đi trước. Thằng Đậu cũng mặt mày hớn hở cầm dáo đi bên ông nội, trông oai phong như một viên tướng xung trận bên cạnh lão tiền bối. Trên đường đi, Đậu thấy biết bao là hoa thơm, trái lạ, mặc dù trong bụng rất mê nhưng ngoài mặt làm ra vẻ thờ ơ, để cho ông nội không đánh giá mình là một đứa trẻ con. "Là một thợ săn lành nghề thế này mà đi ham hoa thích trái ư ?". Thằng Đậu tự nhủ như vậy rồi tiến lên đi song song bên ông nội. Đậu cứ cân mũi dáo, mắt hơi liếc chừng qua hai bên. Những bụi gáo dây đánh nẹo nhau như nhiều con rắn lãi quấn cuộn theo mấy thân cây mớp bự cỡ ôm, đan thành mái lợp mát rượi mặt đất, buông từng sợi xuống lòng thòng tua tủa những chùm hoa tím vật vờ. Những cây trâm suồi trái chín mọng, thơm lựng, từng chùm kết lại tựa mâm xôi..
Thằng Đậu vừa quan sát cảnh vật vừa suy nghĩ lang bang hết chuyện này đến chuyện khác. Đậu nhất định khi trở lại thế nào nó cũng hái một túm trái mây dóc chín về bắn ống thụt chơi.
- Heo ! Heo rừng !
Tiếp theo là tiếng con Đuổi kêu ăng ẳng. Thằng Đậu giật mình nhảy trái một bên, cân mũi dáo lườm vào lưng ông nội. Bác Ba khoát tay bảo Đậu lùi lại, rồi bác cầm phân hai cây mác, sấn tới. Trông bộ vó ông nội hùng hổ, nhưng thằng Đậu để ý thấy nét mặt ông có hơi thất sắc. Đậu mấm môi, cầm chắc dáo. Nó biết là sắp có chuyện đụng độ lớn xảy ra.
Bác Ba vọt qua khỏi mặt thằng Đậu, biểu lui:
- Mầy cứ tựa lưng vào gốc cây, cân mũi dáo chông ra trước mặt, để mặc ông nội lo liệu.
Nghe ông nội bảo, thằng Đậu phát run. Chắc là gặp cọp chớ heo cúi gì ? Thường khi đi rừng, hễ nghe hơi cọp, ông nội bảo Đậu vác dáo cho mũi thẳng lên trời. Ông dẫn giải: "Bởi đặc tính của cọp, lúc bắt người phải chụp phủ từ trên xuống". Nghĩ tới cọp chừng nào Đậu càng nghe rởn tóc gáy chừng nấy. Tuy có ông nội, nhưng cũng phải thủ lấy thân mình trước nhất. Thằng Đậu làm y theo lời ông. Nó thúc đầu cán dáo thật chặt vào thân cây mớp, chống mũi hất lên bốn mươi lăm độ, hướng về trước mặt. Nhưng đứng một chút Đậu cảm thấy nhục ! Ông nội với con Đuổi đang lao vào nguy hiểm, riêng mình lại co vào thế thủ ư ? Nghĩ vậy, thằng Đậu định bỏ chỗ gốc cây ra thì… ông nội và con Đuổi đã nguy cấp rồi ! Cả hai đang vừa chống đỡ vừa thụt lui. Phía chánh diện của họ là một con heo nọc chảng lớn như một con bò mộng, nghểnh chiếc mỏ dài tựa cây đàn bầu táp bốp bốp và mũi khịt vang dậy. Hai hàm răng của con heo nhai vào nhau ken két, cặp nanh cong vút huơ huơ trông đến ớn ! Thằng Đậu hồn bất phụ thể, rụng rời tay chân, buông cây dáo đánh soạt xuống trấp choại. Con heo nọc chảng mỗi lúc một đẩy lùi bác Ba và con Đuổi về phía thằng Đậu. Lông gáy heo chôm chổm sù lên, miệng táp bốp bốp, hai bên mép đóng hai cục bọt quáp lớn bằng ổ bù tọt. Bác Ba thích từng nhát mác chắc nịch vào thân thể con heo, nhưng mũi mác chưa chạm vào da đã bị nó hất bạt ngọn ra như trò chơi, tấm da heo cứ trậm trầy, chỉ cời lên vài lằn mốc như gai cào. Thằng Đậu thấy toàn thân con heo trụi lủi, chỉ còn có một chùm lông gáy mà thôi, lông rụng bày ra tấm da sần sùi nổi u, nổi nần đầy vú chì. Kinh hãi nhất là bộ răng và cặp nanh con heo, tất cả đều trắng ởn !
Trận hỗn chiến diễn ra ngay trước mặt thằng Đậu. Bác Ba Phi và con Đuổi xem chừng yếu thế, họ đang bị con nọc chảng quần cho tơi bời. Đứng trước những kẻ thân thuộc, tính mạng đang bị đe dọa, thằng Đậu thấy mình nhát nhúa. Ở đời lúc nguy hiểm phải xả thân cứu nhau mới phải lẽ, đằng này ngoảnh mặt làm ngơ tránh né một mình cho yên thân thì còn mặt mũi nào sống trong trời đất ? Thằng Đậu nghe da mặt mình căng thẳng, gan ruột nóng bừng, tinh thần tỉnh táo lại, nó vội lượm cây dáo lên. Đậu chực xông vào trợ chiến thì cũng đồng lúc con nọc chảng nhảy phóc tới đánh một nhát chí mạng vào ông nội. Bác Ba rùng người xuống lấy thế trung bình, chĩa mũi mác đỡ ra. Cú đánh của con heo mạnh phi thường ! Cây mác của bác Ba dội ngược, toàn thân bác rúng rính, hai chân chịu lực nặng dằn xuống lún sâu vào trấp choại. Sau một đòn xửng vửng, bác Ba hô lên một tiếng "hát" lộn mèo một vòng, đứng gọn qua phía bên kia, thét lớn:
- Đuổi, mầy để vậy sao ?
Tức thì con Đuổi lao vào ngoạm lấy chúm chân của con nọc chảng. Bị hai mặt giáp công liên tục, nhưng con nọc chảng chẳng chút nào nao núng, lúc quay bên này chống đỡ, lúc xoay bên nọ tấn công, vừa hất con Đuổi văng ra, con nọc chảng liền xoay lưng hứng lấy ngọn mác độc hiểm của bác Ba sấn tới. Mũi mác của bác Ba bén nhọn ngần nào, nhưng không làm sao xuyên nổi lớp da dầy cui của con heo.
Thấy ông nội mệt thở phì phò, con chó Đuổi thì nhe răng, thè lưỡi, thằng Đậu xấu hổ cho phận mình ! Con chó còn liều thân với chủ như vậy, tại sao thằng cháu nhát gan bỏ ông lâm nguy ?
Đậu gồng tay chân cho cứng rắn lên, cầm cây dáo phân đôi, bậm môi lao tới. Thừa lúc con heo quay qua đối phó với ông nội, Đậu thít mạnh một dáo vào cạnh sườn non của con heo. Chẳng ngờ khi mũi dáo của thằng Đậu vừa chạm vào tấm da heo liền bị bật ra, tựa con cóc nhảy lên đống rơm. Nổi dóa, thằng Đậu bồi tiếp một nhát nữa. Lần này dáo đâm nhằm lớp da trên gáy heo, Đậu bị trượt đà, mũi dáo cắm bập vào thân cây mớp bên cạnh và nó cũng ngã chúi theo. Đang loay hoay nhổ dáo ra, thằng Đậu nghe có hơi gió phất tới, nó vội mọp người né tránh. Tức thì một tiếng vèo bay sát qua gáy. Chiếc mỏ đầy răng nanh của con nọc chảng quét sát sạt trên tấm lưng của Đậu. Nhát đánh của con nọc chảng thẳng đà, bay vào cây dáo của thằng Đậu, gãy cán kêu đánh rốp. Hai bàn tay thằng Đậu nảy ngược ra nghe tê dại. Đậu chỉ còn cầm một khúc đằng cán. Trong lúc còn ngơ ngác, thằng Đậu chợt thấy con nọc chảng nhảy bổ tới, chồm lên người ông nội. Đậu hết biết sợ chết là gì, mặt mày nó nóng bừng, lăn xả vào, dùng khúc cán dáo còn lại đập túi bụi vào lưng con heo. Lúc ấy bác Ba vô cùng lo lắng cho đứa cháu nội, vừa lăn người qua tránh nhát đánh hiểm ác của con heo, thuận đà bác Ba co chân hất cho thằng Đậu một cái làm nó bay vèo ra ngoài tựa trái banh lông bị cú sút phạt đền. Bác Ba vừa quay người định chạy theo cháu, nhưng con heo kịp chồm theo táp một nhát vào cạnh sườn bác. Bác hoành thân lộn ngược, xoay mũi mác không kịp đành thọc nguyên đầu cán mác vào họng heo. Một tiếng "rốp” làm chấn động toàn thân thể bác Ba. Người bác Ba bị hất văng ra ngoài, nửa khúc cán mác bị con heo cắn gãy. Khi đứng vững, bác Ba Phi chỉ còn cầm trong tay trơ trọi nửa cây mác ở khúc đầu lưỡi. Con nọc chảng hung hăng cứ lao tới cố hạ cho kỳ được bác Ba, bác cũng vừa vung khúc mác gãy lên thì chân vấp phải sợi dây mây dóc, té sấp. Trước tình thế cực kỳ quẫn bách, bác Ba Phi đành nhắm mắt chờ chết mà thôi. Nhưng từ bên kia, con Đuổi nóng lòng vì chủ, không nệ nguy hiểm, nhảy xổ vào ngoạm lấy chân sau của con nọc chảng, lôi lại. Không hạ được bác Ba, lại bị con Đuổi vướng víu, con nọc chảng nổi bực xoay mình quét một nhát "binh", con Đuổi bay vèo ra ngoài, thân nó lao vào một gốc cây mớp đánh óc một cái nữa. Tội nghiệp cho chon chó có chửa gần ngày sanh bị liên tiếp hai cú đòn tận tử. Thân thể rơi xuống đất và lăn cù mấy vòng. Sau khi con Đuổi cố lóp ngóp bò dậy, nó đứng chồm bốn cẳng nghênh mỏ lên trời cố tru lên một tiếng lớn rồi rùn hai chân sau, đẻ ra một loạt bốn con chó con. Đẻ xong con Đuổi lại lao tới ngoạm vào đùi con nọc chảng lần nữa, vì nó thấy bác Ba cùng thằng Đậu đang lâm cảnh thập tử nhất sinh với kẻ thù. Lại bị vướng víu, con nọc chảng vô cùng tức bực, quét lại một nhát đánh bốp vào đầu con Đuổi. Sọ đầu con Đuổi bể ra làm đôi, mở toác hoác. Con Đuổi từ từ lui ra và toàn thân run lẩy bẩy như con cá lóc bị đập đầu. Bốn con chó con vừa mới đẻ ra, thấy mẹ chúng lâm nạn, chúng sôi sục căm thù liền chia nhau mỗi con một phía đổ xô vào vây chặt con heo. Mỗi con chó con ngoạm cứng lấy một chúm chân con nọc chảng, căng ra bốn bên lằng nhằng, làm con heo không tài nào vùng vẫy được. Bác Ba Phi thấy vậy vội vớ lấy khúc lưỡi mác chặt một đoạn dây mây dóc cộ rịt đầu con chó Đuối lại. Trong lúc thằng Đậu với bốn con chó vây đánh con nọc chảng túi bụi, thì bác Ba Phi dẫn con Đuổi mới băng bó xong, nhảy vào trợ lực. Cái đầu con Đuổi tuy được bác Ba rịt lại nhưng cũng còn kẽ hở. Lúc nhào vô cắn heo, tiếng sủa của nó cứ xì hơi ra theo lằn nứt nghe cành cạch. Bốn con chó con cứ vừa cắn vừa sủa gâu gâu, chúng đang hăng hái nên tiếng sủa vang động khu rừng. Mẹ con con Đuổi cứ sủa nghe "cạch, cạch… cạch, cạch… gâu, gâu, gâu…"


24- PHẢI GỌI LÀ CON RẮN NAI MỚI ĐÚNG.


Con nọc chảng thấy một mình đương cự với mấy thế hệ loài người và loài chó, liệu sức không kham, liền hộc lên một tiếng vang dội, chịu thua, bỏ chạy mất dạng vào rừng.
Mặt trời đã xế dài. Chuyến đi rừng này ngoài những thu hoạch bao nhiêu là sự vất vả và khủng khiếp, ông cháu bác Ba Phi chưa được môït lợi lộc gì. Hai ông cháu thua buồn gọi bầy chó ra về. Hồi đi chỉ có một con Đuổi, khi về thêm cả bầy nào là con Đốm, con Phèn, con Mực và con Cò một lũ, làm cho thằng Đậu khoái chí quên hết mệt nhọc lao lý. Cứ nhắm hướng đậu xuồng hồi sáng, ông cháu bác Ba dẫn đàn chó lội miết.
Hai ông cháu bác Ba dắt bầy chó lội lẩn quẩn một hồi, bỗng con Đuổi kêu lên một tiếng, triển khai bầy con căng ra hai bên sẵn sàng nghinh chiến. Bác Ba cùng thằng Đậu cũng vội lui lại, kẻ vung cán dáo, người chống khúc lưỡi mác, thủ thế. Bầy chó đánh hơi thấy được sự nguy hiểm đang rình rập đâu đây.
Con Đuổi ngước mũi về phía trước hít hít mấy cái rồi lui lại, cụp đuôi, cụp tai, kêu ư ử như rên. Đây là một hiện tượng nhất định phải có biến cố. Bác Ba Phi ngồi xuống ôm con Đuổi vào lòng, vỗ về:
- Tội nghiệp quá ! Mây về "nằm lửa" cứng cáp mới được.
Con chó được chủ âu yếm, nó rúc gọn vào lòng ông và cứ đưa mắt lấm lét nhìn về phía trước. Và bác Ba thấy mòi không kham, bảo thằng Đậu lùi lại vài mươi mét, rồi hai ông cháu cùng bầy chó chui vào một bụi rậm ngồi rình xem động tịnh. Bác Ba ra dấu không cho bầy chó đánh tiếng. Chúng nó riu ríu nghe lời, cứ nằm im thin thít. Thằng Đậu bắt chước ông nội, nó cũng cầm khúc dáo lườm lườm về trước mặt, nhưng lưng nó thúc sát vào ông mà run cầm cập.
Chốc sau hai ông cháu bỗng nghe khu rừng choại trước mặt có tiếng động ào ào như một con trốt lớn đang tới. Rồi xen vào đó là tiếng rắn thổi hơi phì phèo, tiếng nai kêu bét bét, tiếng rung động cây cối mỗi lúc một quyết liệt. Bầy chó nằm ép sát bên chân ông cháu bác Ba không dám rên rỉ một tiếng nhỏ. Thằng Đậu thì bủn rủn tay chân buông xuôi khúc cán dáo, ôm cứng eo ếch ông nội nằm chịu trận. Ngược lại, bác Ba bình tĩnh lạ thường ! Bác ngồi chân quì chân xổm trong tư thế sẵn sàng nghinh chiến để bảo vệ kẻ thân yêu của mình.
Nhưng sau đó, những thứ tiếng động chỗ ấy lắng im, rồi một cái đầu con rồng từ từ ló lên khỏi đọt choại. Bác Ba khều thằng Đậu chỉ cho nó xem. Thằng Đậu thầm thì hỏi:
- Sừng rồng cũng giống hệt sừng nai, hả ông ? Nhưng con rồng này sao không có râu ?
- Ừ, cũng lạ, để thủng thỉnh coi…
Hai ông cháu cứ ngồi im trong bụi theo dõi. Con quái vật đằng kia trong gộp choại từ từ bò ra trảng dớn, đầu ngẩng cao đến mười thước, thân lớn hở ôm, da lưng đen móc, hai bên thành bụng có hàng vảy ửng hồng màu hạt mây chín. Thằng Đậu lại thì thầm:
- Rồng sao không có chân, hở ông ? Nhưng tại sao lại có sừng ?
Bác Ba thừa nhận sự quan sát và nhận xét của thằng Đậu rất tinh tế:
- Ừ, tạm gọi là "rắn rồng" vậy.
Nhưng thằng Đậu nhất định không chịu:
- Không ! Nếu rắn rồng thì mình phải có chân, mỏ phải có râu. Con này nên gọi là "rắn nai" mới chính xác.
Con rắn rồng hoặc con rắn nai gì đó bò mỗi lúc một xa. Bác Ba Phi phì cười xoa đầu thằng cháu, nói:
- Ừ, thì con rắn nai. Con rắn hổ mây nuốt trọng một con nai chà, đầu nai còn ló ra ngoài miệng rắn.


25- PHẢI ĐĂNG BẢNG CHO NGƯỜI TA KHỎI LẦM.


Một chuyến đi săn đầy gian khổ nhưng vô cùng thú vị này. Ông cháu bác Ba Phi nhất định khi về phải có gì "cầm tay". Trên đường về họ bàn nhau phải tạt bậy đâu đó tìm "chút cháo" mang về cho vui. Hai ông cháu khi lọt ra một khu rừng cổ thụ, toàn những cây tràm sống lâu năm, mình mẩy cong queo có lỗ có hang, ruột thì bộng rỗng tựa những ống trúm đặt lươn. Thứ tràm này chỉ để dành nuôi hoa phong lan, bôïng làm chỗ ẩn nấp cho loài kỳ đà mà thôi. Rừng trống chân, đất mát và hơi rắn hơn những nơi trấp choại. Hai ông cháu cùng bầy chó vừa đi vừa ngao du cảnh trí thiên nhiên, không khác một đoàn du lịch dạo núi rừng.
Bỗng con Đuổi đi trước đánh hơi khịt khịt rồi cùng bầy chó tốc rượt ào ào. Bộ vó chúng là khí thế rượt "mồi". Ông cháu bác Ba mừng thầm, đứng chờ độ nhai dập bã trầu thì bầy chó đã lên tiếng "kêu thịt". Bác Ba dẫn thằng Đậu chạy nhanh về hướng chó sủa. Qua khỏi vùng gộp choại, hai người chợt lọt vào một vùng cây, toàn là những cây tràm cong giò nai và bộng ruột. Họ thấy mấy con chó cứ chồm chồm lên những bộng cây mà sủa. Bác Ba cất tiếng cười sằng sặc rồi thở dài một cách khoan khoái:
- Kỳ đà đó, Đậu ạ !
Nghe ông nội nói, thằng Đậu còn ngơ ngác chưa biết kỳ đà đang ở đâu.
Bác Ba dắt nó lại những bộng cây chỗ mấy con chó báo hiệu, chỉ cho Đậu xem. Cây thì lớn, bộng lại rộng và sâu, kỳ đà chui vào bám chắc bên trong có trời mà lôi ra. Thằng Đậu nghĩ vậy vì chính mắt nó thấy một lần con kỳ đà chun nằm trong bộng cây mù u bên cạnh nhà, ông nội thách thức ba anh bộ đội nắm đuôi lôi ra, cuối cùng các anh nắm ghị đến đứt từng khúc đuôi, chớ con kỳ đà nhất định không buông mình cho người ta kéo tuột ra ngoài. Ông nội giải thích rằng con kỳ đà nằm trong bộng cây nó giương những móng sắc tựa những dấu ó của bốn bàn chân và phình luôn cái bụng da nhám ra, có nước xách búa bửa bộng mà thôi.
Thằng Đậu nôn nao trong bụng, nhìn ông nội chờ đợi xử lý. Bác Ba móc túi lấy gói bánh thuốc giồng ngồi vấn hút phì phèo. Qua làn khói thuốc bay bay, bác Ba nheo nheo hai mắt dưới đôi mày rậm, đầu lưỡi tém tém điếu thuốc dính trễ dưới vành môi, xem như chẳng có chuyện gì cả. Suy nghĩ một lúc lâu, thằng Đậu bực bội chịu hết nổi, nó giục:
- Ông nội ! Phải làm sao đây chớ ?
Bác Ba đáp lại như một tiếng ngáp:
- Gừng.
Thằng Đậu không hiểu gì cả, gãi đầu, hỏi tiếp giọng cộc lốc:
- Gừng là thế nào ?
Bác Ba bày cách cho thằng Đậu làm:
- Mầy chặt độ chục cây tràm nhỏ và một mớ dây mây dóc, dây mắp nước loại thật dẻo cho ông. Tuy chưa biết ông nội có ý định gì, nhưng thằng Đậu cứ vâng lời. Loáng một cái là nó làm xong ngay. Đoạn bác Ba đến xem xét kỹ lưỡng những thân cây bộng ruột đang có kỳ đà chui nằm bên trong, và bác bảo thằng Đậu làm dấu từng cây, ước lượng sơ sơ xem bầy kỳ đà có độ bao nhiêu con vừa lớn vừa nhỏ. Thằng Đậu lập tức làm theo lời ông nội. Bác Ba vẫn ngồi hút thuốc phì phèo. Một lúc thằng Đậu trở lại báo cáo:
- Trên mười bộng cây có kỳ đà chui vào, cộng hết thẩy ngót nghét hai trăm con.
Bác Ba nghe báo gật đầu rồi lấy chiếc lon zui-gô, bỏ vào một củ gừng già, dùng khúc cây giã cho thật nhừ. Xong đâu đó bác mới chịu giải thích cho thằng Đậu rõ cái bí quyết gia truyền này:
- Giống kỳ đà đại kỵ với gừng. Nếu gặp kỳ đà nằm bộng cây ló đuôi ra thì ngậm một chút gừng vào miệng, kê răng nhăn giập nát đuôi nó, tức thì nước gừng thấm vào cơ thể kỳ đà sẽ rũ liệt gân cốt, buông tuột ra khỏi bộng.
Thằng Đậu còn phân vân:
- Nhưng trường hợp này, kỳ đà nhiều con còn nằm sâu trong bộng cây, chúng có ló đuôi ra đâu mà mình nhai giập ?
- Ông sẽ có cách bắt chúng nhai đuôi vần công với nhau.
Bác Ba để nước vào lon nhồi bóp ra cho đều tay, rồi hai ông cháu bưng lon nước gừng đến chỗ mấy bộng có chứa kỳ đà. Bác bảo thằng Đậu nùi cỏ xảm cứng miệng bộng phía dưới. Bác thì trèo lên phía trên bộng cây dùng lưỡi mác khơi một lỗ nhỏ, vốc một ít nước gừng nhểu vào từ từ. Và cứ mỗi bộng cây có kỳ đã là bác Ba đều rưới vào một bụm nước gừng như vậy. Xong đâu đó, bác trở lại cây đầu tiên bảo thằng Đậu mở nùi cỏ ra. Bây giờ bác Ba mới chịu tiết lộ cái bí quyết bắt kỳ đà bằng nước gừng với đứa cháu nội:
- Ông vóc nước gừng vào miệng con trên hơi nhiều một chút, cho chảy dài xuống miệng những con kế tiếp. Những con ở dưới bị cay miệng tất nhiên phải chảy nước dãi ra thấm dài xuống dưới nữa. Bị cay miệng con nào cũng phải nhai, tất nhiên nhằm vào đuôi con phía trên. Chỉ cần mượn chúng vần công đánh độc cho nhau, chút sau con nào cũng rũ rượi gân cốt. Chừng đó ta mặc tình mà nắm đuôi lôi ra.
Quả đúng như ghi. Mỗi một cây có bộng kỳ đà đã chui vào, ông cháu bác Ba nắm đuôi lôi ra hàng chục con. Lôi xong con phía dưới thì con trên tuột xuống, ló đuôi ra, cho mặc sức mà lôi. Thằng Đậu thấy ông nội tài tình quá trời, vỗ tay reo ầm tán thưởng. Bác Ba lôi ra từng con kỳ đà một. Bác lẩy hai cái móng chân trước, kéo hai sợi gân ra trói thúc ké ngược trên lưng. Thằng Đậu bê từng con kỳ đà mập ú nặng hàng chục ký lô xỏ luồn cây tràm con vào giữa hai chân bị trói. Xỏ cho hàng chục con vào một cây tràm. Rồi nhiều xâu như vậy, Đậu mới kết lại thành một bè. Hai ông cháu bác Ba cứ bắt kỳ đà bị nhiễm nước gừng hết bộng này sang bộng khác. Họ trói xỏ vào cây kết bè, đến được chẵn chục xâu kỳ đà bi trói ké hai tay.
Ngồi nghỉ một lúc, hai ông cháu nối mười bè kỳ đà lại một hàng dọc, kiềng những đầu cây vào nhau thật chắc. Xong đâu đó hướng mũi bè kỳ đà ngay về phía mặt trời mọc, phía ấy là xóm nhà và bắt đầu cho chúng hành quân. Trước khi đội quân liên hợp kỳ đà lên đường, bác Ba gọi con Đuổi đến phân công làm tổng chỉ huy dẫn đầu, bốn con chó con làm chánh, phó tướng theo hộ vệ và áp tải hai bên. Con Đuổi lãnh lệnh bắt đầu hô lệnh tiến quân “cạch, cạch”. Bốn con chó con lên tiếng chấp hành “gâu, gâu”. Đám kỳ đà tù binh không dám cãi lệnh, cúi đầu bước lên bằng hai chân sau “ọp, ọp... ọp, ọp”. Bác Ba vạt một mảnh gỗ bằng bàn tay gắn lên trên bè, lấy trái dác chín viết mấy chữ: “Bè kỳ đà liên hợp của Ba Phi”.


26- BỖNG DƯNG CÂY RỪNG CHẠY LÙI VỀ PHÍA SAU.


Sau khi bầy chó áp tải bè kỳ đà đi rồi, ông cháu bác Ba Phi trèo lên một mô đất ngồi nghỉ mệt, bác Ba mở gói thuốc bánh giồng ra quấn hút. Thằng Đậu thì cứ nghí ngố bàn luận về việc bắt kỳ đà chui trong bộng cây vừa rồi. Dường như niềm lý thú trong lòng nó chưa vơi.
Thằng Đậu hỏi ông nội:
- Sao ông biết được nhược điểm cái giống kỳ đà như vậy ?
Đó là hiện tượng tự nhiên mà dân gian truyền lại, bác Ba cũng không biết sao để giải thích cặn kẽ cho thằng Đậu hiểu được. thằng Đậu thì tin tưởng tuyệt đối cái bí quyết gia truyền trị kỳ đà của ông nội rồi, nhưng nó chợt nhớ lại trận thất đảm vì con nọc chảng hồi trưa, liền hỏi:
- Ông có thứ thuốc gì trị heo nọc chảng ?
Đã ngon trớn cao hứng, bác Ba ra chiều khinh dễ, nhún vai:
- Cọp gấm ông còn có thuốc trị được, nói chi heo rừng...
Thằng Đậu thấy ông nội ấp úng, nó cười:
- Heo rừng thì... cũng dễ bị gãy cán mác như chơi, hở nội ?
Bác Ba Phi bị thằng cháu nội chiếu bí, nổi giận trợn mắt, quát:
- Cái thằng cha mầy !
Thằng Đậu cười nhắm mắt, ngã lăn sấp tuột người xuống khỏi mô đất. Đậu giật mình vớ lấy cây tràm bên cạnh để nương mình lại. Chẳng ngờ tay nó vừa nắm cây tràm, thân cây bỗng vụt một cái chạy lùi về phía sau như sợ hãi. Thằng Đậu không biết tại sao lại có chuyện lạ lùng như thế, nó trừng mắt nhìn kỹ một hồi. Nhưng rồi nó bật ngửa ra, ôm cứng ông nội, thét lên:
- Tại sao cả rừng cây chạy lùi về phía sau như vậy ?
Nghe cháu nội bảo chuyện ma quái như vậy, bác Ba tức mình ném điếu thuốc đang hút dở dang, móc túi lấy cây kiếng đeo lên mắt xem lại. Úy cha ! Rõ rằng là cây hai bên rừng đang chạy liệt liệt về phía sau, chuyện gì mà trông khủng khiếp quá ! Bác Ba chụp vội khúc lưỡi mác, thằng Đậu cũng chụp khúc cán dáo, cả hai sửng sốt như trời trồng. Chút sau hồn vía từ từ tỉnh lại, bác Ba thét lớn:
- Chúng ta đang ngồi trên mu một con càng đước, và nó đang chạy trối chết vào rừng xanh.
Thế là vô kế khả thi, hai ông cháu đành hạ khúc cán dáo và lưỡi mác xuống, ngồi khoanh tay để chịu trận. Con càng đước cứ chạy, không biết nó có hay rằng trên lưng mình đang có hai người ngồi trò chuyện chăng ? Hết lúc hốt hoảng sang hồi hứng thú, thằng Đậu vỗ tay nhe răng cười:
- Y như là ông cháu mình ngồi trên muôi chiếc xe đưa đò vậy.
Bác Ba gật đầu:
- Nhưng xe không người lái và động cơ xe bằng thịt.
- Loại xe này buồn buồn chặt ra một miếng xào dừa nhậu chơi, đã lắm hé ông nội !
Nhưng nghĩ một chút, thằng Đậu chợt nhớ ra một chuyện quan trọng:
- Không khéo “chiếc xe” của mình chạy luôn ra chợ Cà Mau, bị cò phạt cái tội hai thằng lơ ngồi trên mui, đó ông.
Bác Ba cũng bâng khuâng thở dài:
- Ông không có mang tiền theo lấy gì mà nộp phạt đây ?
Hai ông cháu còn toan tính, chợt nhìn phía trước thấy có một thân cây ngã nằm chắn ngang. Thằng Đậu la hoảng lên:
- Cây của ai bắc ngang, nó sẽ gạt ông cháu mình rớt xuống mui xe.
Bác Ba hô lớn:
- Cầm vũ khí, chuẩn bị sang xe !
Thằng Đậu cầm cán dáo, bác Ba xách lưỡi mác, trực sẵn. Đợi con càng đước chạy tới vừa chui qua dưới dạ “cây cầu”, hai ông cháu liền thót lên, bám lấy một cách gọn hơ.
Đã thoát nạn, hai ông cháu thở ra một cái khì và vươn vai kêu “ứ hự”.
Lỡ rồi, hai ông cháu ngồi trên “cây cầu” nghỉ một chút, rồi sẽ tính chuyện tìm đường về. Bác Ba mở gói thuốc bánh giồng ra vấn hút. Gió thổi quật làn khói thuốc hiu hiu vào mặt, bác Ba búng tàn thuốc xuống thân cây. Nhưng bất chợt “cây cầu” vụt nảy lên, cựa quậy. Hai ông cháu bác Ba lấy làm lạ, không hiểu tại sao ? Bác Ba giật mình ngã ngửa, chõi hai tay ra sau, vinh hàm râu lên. Thằng Đậu lính quýnh, đỡ ông nội dậy. Nó la bài hải:
- Chắc là cây cầu dây thun, nó biết chạy. Ông nội phải ngồi cho vững.
Bác Ba ngồi yên móc túi lấy cây kiếng đeo lên mắt quan sát rồi thì thầm với thằng Đậu:
- Con kỳ đà ! Một con kỳ đà ông ngoại.
Thằng Đậu sợ xanh mặt, nói nhỏ sợ con kỳ đà nghe:
- Nó có biết ông cháu mình mới tàn sát con cháu nhà nó không ?
Bác Ba gạt đi:
- Phải biết, ông nội mầy cũng tráng miệng cho nó rồi.
Con kỳ đà cứ chạy ào ào qua trảng dớn, nó không biết gì đến chuyện bàn bạc của ông cháu bác Ba. Đến gần mé rừng rậm, con kỳ đà chạy chậm lại, dường như ngán tuôn vào lùm bụi. Thấy vậy bác Ba nói với thằng Đậu:
- Xem mòi chiếc tàu liên vận này nóng máy rồi, để ông lên ga cho nó vọt.
Nói xong, bác Ba dùng đóm điếu thuốc châm vào lớp da lưng con kỳ đà. Bị lửa nóng, con kỳ đà vọt tới ào ào bất kể cây cối. Thằng Đậu thấy vậy khoái chí bảo ông nội:
- Đưa điếu thuốc đây con “lên ga” nó chạy nữa, ông nội !
Đậu cầm điếu thuốc cháy ngấm châm liên tục vào lớp da lưng con kỳ đà, làm con vật nhảy cỡn lên, thiếu điều quăng ông cháu nó xuống đất. Đậu càng khoái càng châm thêm và cười ngặc nghẹo. Nó châm miết đầu đóm điếu thuốc vào da lưng con kỳ đà, kêu xèo xèo và cháy ngún bốc khói lên. Bị nóng quá, con kỳ đà lồng lên quất đuôi lia lịa để chữa lửa. Ông cháu bác Ba thiếu chút nữa bị kỳ đà đập ngã. Họ mọp sát xuống né tránh. Đuôi con kỳ đà cứ đập hoài mặc dù nó đang thẳng đà chạy tới, cây cối hai bên quật đổ ào ào, sậy đế đổ có nùi. Thấy nguy hiểm tánh mạng đến nơi, bác Ba thét lớn:
- Bỏ tàu, nhảy xuống !
Tức thì hai ông cháu phóng một cái gọn hơ xuống đất. “Hú hồn hú vía về ăn cơm với cá”. Bác Ba van vái lầm bầm trong miệng, trong lúc hai tay hai chân vẫn còn run lẩy bẩy. Khi hai ông cháu định thần nhìn kỹ thì họ trông thấy con kỳ đà lớn tựa chiếc xuồng cui còn tiếp tục chạy ào ào vào rừng sâu. Ông nhìn cháu, cháu nhìn ông, cả hai cứ ngẩn ngơ, lè lưỡi, lắc đầu.
Thằng Đậu băn khoăn nắm tay ông nội, hỏi:
- Lạc mất bầy chó với bè kỳ đà rồi, bây giờ làm sao đây, ông nội.
Bác Ba tuy rối trí nhưng cố làm tỉnh, ngẩng lên nghe ngóng một hồi rồi bảo:
- Cây rừng chạy bỏ mình thì mình cũng phải chạy bỏ lại chúng. Tiếng chim kêu vang vang kia, chỗ đó chắc chắn có trảng trống, ta đi thẳng đến, bỏ cây rừng lại phía sau.

_______________________________________________________



CÒN TIẾP....



ANH ĐỘNG

© CẤM ĐĂNG TẢI LẠI NẾU KHÔNG CÓ SỰ ĐỒNG Ý CỦA TÁC GIẢ


TRANG CHÍNH TRANG THƠ ĐOẢN THIÊN BIÊN DỊCH HỘI HỌA ÂM NHẠC