TÁC GIẢ
TÁC PHẨM




ANH ĐỘNG



. Tên thật Nguyễn Việt Tùng
. Sanh năm 1941 tại Vĩnh Thuận - Kiên Giang
. Hiên cư ngụ tại Thị Xã Kiên Giang
. Hội viên Hội Nhà Văn Việt Nam, Hội Văn nghệ Dân Gian Việt Nam

TÁC PHẨM ĐÃ XUẤT BẢN :

. Bác Ba Phi (tiểu thuyết)
. Bóng núi Tô Châu (tiểu thuyết)
. Xôn xao đồng nước (tiểu thuyết)
. Dệt chặng đường xuân
. Đường về Miệt Thứ (ca cổ).....








TIỂU THUYẾT


BÁC BA PHI - PHẦN I (1 & 2)

BÁC BA PHI - PHẦN I (3 & 5)

BÁC BA PHI - PHẦN I (6 & 7)

BÁC BA PHI - PHẦN II (8 & 9 & 10)

BÁC BA PHI - PHẦN II (11 & 12 & 13 & 14)

BÁC BA PHI - PHẦN II (15 & 16 & 17 & 18)

BÁC BA PHI - PHẦN III (19 & 20 & 21 & 22)

BÁC BA PHI - PHẦN III (23 & 24 & 25 & 26)

BÁC BA PHI - PHẦN III (27 & 28)

BÁC BA PHI - PHẦN IV: CHIẾN TRANH (29 & 31)

















































BÁC BA PHI


LỜI NGƯỜI VIẾT

Chuyện nguyên mẫu của bác Ba Phi chỉ nói về thiên nhiên giàu đẹp của xứ sở U Minh, nơi quê hương đang sống, nào rắn rùa, tôm cá, chim chuột tuyệt đối không có chuyện nào nói đến chiến tranh cả. Cuộc kháng chiến chống Mỹ mỗi lúc một ác liệt, chuyện bác Ba Phi mỗi lúc một phát triển đa dạng, lan truyền nhanh, nhân rộng theo những “kênh” đường dây giao liên, vận tải, theo đường hành quân, nơi ăn ở của bộ độ, cơ quan cách mạng. Cứ cái mô-típ gài cốt chuyện rồi tạo một thắt nút có kịch tính phóng đại nhảy vọt, mạnh ai nấy sáng tác rồi đổ thừa đó là truyện của bác Ba Phi. Có những “môn đồ” muốn thuyết phục người nghe còn thề bán mạng là chính mình ngồi giáp mặt bác Ba nghe kể chuyện vào trường hợp nào... nào đó, số môn đồ đó không loại trừ tôi.
Tôi nhớ không lầm, mãi cho đến những năm giặc bình định ác liệt, có nghĩa là vào đầu Việt Nam hóa chiến tranh, từ chiến trường 1C, tôi là người “đưa” bác Ba Phi tham gia vào chiến tranh.
Chiến trường ác liệt đến người ta tưởng tượng rờ đâu cũng đụng cái chết, gian khổ đến thân thể lính ta vào những mùa nước bị ghẻ lác loang lở từ “lỗ chiếu môn đến đỉnh ruồi”. Và đói khát, bệnh hoạn đến vàng da, rụng trọi tóc. Con người cần có tiếng cười như tim cần có máu. Phương tiện chiến tranh hiện đại của địch ở đây thường dùng áp đảo ta ngoài máy bay “cán gáo” còn pháo bầy, tàu binh các loại, trực thăng vận và xe lội nước. Để mượn bác Ba Phi giải tỏa bớt nỗi “ớn xương sống” các loại nầy ở lính ta, tôi nghiên cứu đưa bác ra hàng thế trận diệt chúng từ từ... Đến khi chấm dứt cuộc chiến tranh chống Mỹ, chuyện bác Ba Phi vẫn còn là văn học truyền khẩu, chưa thấy xuất hiện thành văn ở sách báo nào...
Có lần tôi thầm thì với bác Nguyễn Tuân về ý định muốn đưa chuyện truyền khẩu bác Ba Phi vào văn học. Bác Tuân khuyến khích ngay:

“Cậu mổ xẻ ông Ba Phi trên mảnh đất của cậu, bằng con dao của cậu rồi xào nấu với nguyên liệu riêng của cậu, nó sẽ trở thành một món đặc sản thích hợp khẩu vị bạn đọc hơn bất kỳ ai”...

- ANH ĐỘNG -




PHẦN IV: CHIẾN TRANH

29 & 31




29- CHÉM TRỰC THĂNG.


Cánh đồng lúa đang thì con gái, xanh mướt, gợn sóng tận chân rừng. Bầu trời xanh lơ, chim cò bay từng đàn rợp cánh như mây. Đồng nước đen thẫm màu trà đậm, dậy tiếng cá ăn móng. Thỉnh thoảng có tiếng nổ từ chi khu Rạch Ráng, cá rộ cái rần chẳng khác một cuộc mết tinh lớn vỗ tay hoan hô. Xa xa, mấy người đàn bà cầm cần câu cá rô đi lấp ló sau mấy đục vườn. Từng đàn chim giang sen, bồ nông kéo thành về dậm cá, giành ăn đánh nhau táo tác.
Bác Ba Phi một mình câng cần câu thượt, rung rung nhấp cá lóc cạnh mé vườn. Gốc cần câu có cái nạng, được chõi vào cổ bắp vế, bác Ba cứ huơ mồi ném đi và rê rê sợi dây kéo lại. Ấy vậy là vào một buổi sáng, mặt trời vừa mọc lên cao độ một con sào, bỗng từ trong vườn có tiếng thằng Đậu réo ông nội giật giọng:
- Có tiếng máy bay “đầm già” đó, ông nội.
Bác Ba còn mê rê con mồi theo chỗ dợn nước của cá mẹ ròng ròng, nghe cháu kêu, hơi bực:
- Kệ cha nó ! Đồ cà nhỏng đó, sợ gì ?
Chiếc máy bay trinh sát L.19 hướng chi khu Rạch Ráng bay vè vè vô, đảo lộn một vòng rộng trên bầu trời cánh đồng Kinh Ngang, vòng sau máy bay hạ thấp xuống mặt ruộng, liếc vèo qua trước mặt bác Ba Phi. Cửa máy bay quên đóng, bỏ trống hốc. Một thằng Mỹ từ trong ló đầu ra, bộ mặt đỏ gừ, hất lên kiểu trịch thượng:
- Ô kê ! Mông xừ Ba Phi nói dóc nghe chơi !
Bác Ba nổi dịch quất cần câu thượt vào đít chiếc L.19 một cái trót. Thằng giặc lái Mỹ quýnh người, bẻ tay lái quẹo ngang để tránh đòn. Bác Ba chửi lầm bầm:
- Tổ mẹ mày chớ nói dóc !
Vừa dứt lời bác Ba bỗng nghe cái ầm, chiếc L.19 bẻ lái gắt quá bị đâm đầu vào gốc cây xoài mé vườn. Đang lúc máy bay “de” lại thì thằng Đậu cầm cần câu cá rô từ trong lùm nhảy ra đánh chận đầu. Thấy đường roi trúc của thằng Đậu quất quét tới tựa một tay kiếm tuyệt luân, thằng giặc lái Mỹ liền bẻ lái trích ngang và cho máy bay vọt lên. Bất thần chiếc máy bay liếc qua sát một cây cau lão, cánh nó chém đứt ngọn nửa thân cây. Trong lúc chiếc L.19 còn lúng túng tìm đường chạy, bác Ba nhảy tới nạt:
- Mầy thường cây cau cho tao !
Tên giặc lái Mỹ cũng không vừa, quát lại:
- Mầy đem thợ rèn xú-đuya cái chong chóng máy bay của tao đi !
- Đồ xâm lược, chết bỏ, thường gì ?
Nhắm chửi lộn không thắng bác Ba, tên Mỹ vọt máy bay về Rạch Ráng, nói lui lại:
- Để tao đem trực thăng cán gáo vô “thường” cho hai mươi quả pháo.
Tưởng là lời đe dọa suông của tên cướp nước, ông cháu bác Ba không để ý, vô nhà cất cần câu, hai người vác hai cây phản ra để phát cỏ vườn. Đang lom khom làm việc lại nghe có tiếng trực thăng “cán gáo” xuống thiệt ! Bác Ba bảo thằng Đậu cùng vác phản ra mé vườn xem.
Chiếc trực thăng cái đầu tròn tựa cái lu, có cái đuôi cắm vào phía sau, trông không khác một cái gáo dừa người ta tra cán để múc nước. Nó bay thấp sát đọt lúa, và rồi liếc dần vào mé vườn. Khi chiếc máy bay rề ngang trước mặt hai ông cháu, bác Ba Phi thấy rõ cái bản mặt của thằng Mỹ hồi nãy ló ra cửa sổ dòm dáo dác. Bác nghĩ thầm trong bụng: “Bọn xâm lược mà cũng giữ đúng lời hứa ?”.
Thằng Đậu cũng nhận ra bộ mặt tên Mỹ đã quen, Đậu bảo:
- Đồ tóc đỏ chạch mà cũng thù dai dữ, ông nội ha ?
- Thứ đế quốc xâm lược đó mà...
Ông cháu bác Ba Phi bàn tán chưa dứt lời thì chiếc trực thăng cán gáo đã áp sát mé vườn. Nghe cán gáo quần đảo, chị Hai Ổi nhà hàng xóm dắt con Xoài, thằng Mít, con Lê, con Lựu chạy ra hầm núp ở liếp gần bên. Chiếc máy bay thấy có bóng người chiu vô hầm, liền rề lại đánh. Bác Ba bảo thằng Đậu:
- Ông cháu mình gây hấn, thằng Mỹ lại trả thù vào đồng bào, liệu sao đây ?
- Thằng giặc mà mình không dám gây nó cũng bườn tới chớ nhơn đạo gì !
Nghe thằng cháu nói làm bác Ba Phi vuốt râu gật gù khen, nó “có trình độ chánh trị”.
Chiếc cán gáo đảo vòng nhặt quanh chiếc hầm mẹ con chị Hai Ổi, nó cắm sát cái đuôi xuống lớp cây ngụy trang mà xoáy rào rào. Lá lú, bụi đất bay lên mù mịt. Lớp ngụy trang bị tốc hết, chỉ còn bày ra nguyên nóc hầm trơ trơ. Và thằng Mỹ khốn nạn kia đã nổ súng. Tiếng mấy đứa nhỏ khóc ré, tiếng chị Hai Ổi kêu cứu nghe đứt ruột ! Thằng Đậu xúc động, thở hổn hển:
- Làm sao đây ông nội ?
Tay nó vung vung cây phản nhìn về phía chiếc máy bay đang sát phạt đằng kia. Bác Ba thét lớn và vung cây phản lên:
- Phải “sát nhất miêu cứu vạn thử !”
Hai ông cháu huơ phản nhảy đùng đùng qua mương, lao đến chỗ hầm núp của chị Hai Ổi.
- Ông chận đầu, mầy khóa đuôi !
Lịnh ra vừa dứt, hai ông cháu bác Ba triển khai ngay. Bác Ba chạy bọc qua liếp chận đầu. Thằng Đậu từ sau tràn tới. Đậu giơ phản định chém bổ vào đuôi máy bay. Tên Mỹ chợt nhìn thấy qua kiếng chiếu hậu, nó liền nhấn ga vọt tới tránh đòn. Một luồng đạn “hồi mã thương” rát rạt qua hông thằng Đậu. Đậu ngả ngang, thét:
- Vỗ mặt ngay, ông nội !
Bác Ba vừa vung phản lên định chém, thằng Mỹ lại thấy, cắn chặt răng, bẻ cần lái thật gắt làm chiếc máy bay cài số de dựng đứng. Bị thắng gấp, đuôi chiếc máy bay quật ngang đập vào vai bác Ba té lăn cù. Cây phản trên tay bác Ba văng đi xa lơ. Đầu chiếc áy bay lại quay đúng về phía thằng Đậu. Thấy cái đầu chiếc trực thăng cán gáo đâm sầm một cục chần vần ngay mình, thằng Đậu hoảng quá, nhắm mắt lại, cắn răng vung phản bổ thí tới. Chẳng ngờ tên Mỹ cũng lanh tay, cài số de lại nghe cái “rốp” ! Đuôi máy bay thụt lui, xốc xéo xuống cày một bựng đất. Trong lúc bác Ba vừa lồm cồm ngồi dậy chưa kịp lượm cây phản, bác vội chụp đại lấy đuôi chiếc máy bay. Biết mình bị nắm đuôi, tên Mỹ trở lại số một cho máy bay vọt tới. Nó định lôi luôn bác Ba lên trời cho du lịch không gian chơi một lần để bỏ ghét. Nhưng bác Ba đã từng chán cái cảnh ấy rồi, vội thét lớn:
- Đậu ! Mầy vung phản dứt ngang chặn giữa, để thằng Mỹ nó lôi ông nội đi giống con rồng chửa hôm nọ thì khổ lắm !
Thằng Đậu nóng ruột vì ông, nó liều chết lăn xả tới, bổ một phản đứt lìa khúc đuôi chiếc trực thăng cán gáo, rơi bác Ba và cả cái đuôi máy bay lại một cái đụi. Chiếc trực thăng bỗng dưng được nhẹ mình, thẳng đà vọt thẳng lên trời một cái vèo, nhưng vì nó bị đứt đuôi nên không kềm lái được, toàn thân nó cứ quay tròn tròn như chiếc bông vụ.
Thằng Đậu thấy ông nội cứ ôm khúc đuôi máy bay khư khư trong lòng mà nằm chò co trên liếp hoài, nó tưởng đâu ông bị thương, vội chạy đến xem. Chẳng ngờ ông nội nó vì tuổi già sức yếu, làm nặng quá nên chỉ nằm nghỉ mệt một chút cho khỏe.


30- LẤY ĐẦU ĐẠN ĐẠI BÁC.


Có người bảo chiếc trực thăng cán gáo bị ông cháu bác Ba chém cụt đuôi rơi xuống sông Đốc sôi tim mẳn, có người lại bảo chiếc cán gáo vẫn về được tới chi khu Rạch Ráng, nhưng thằng Mỹ giặc lái bắt đền tên quận Nhung phải chở xuống lò rèn thợ Cự xú-đuya cái đuôi lại. Riêng bác Ba thì... cái gì thì cái, bác biết chắc mẻm là cha con thằng quận Nhung bị bác chọc giận, thế nào bọn chúng cũng trả thù.
Quả thật, chiều hôm ấy và đến suốt mấy đêm sau nữa, hễ giác đầu hôm thì những khẩu đại bác ở chi khu Rạch Ráng giã xuống, giác về khuya những khẩu pháo hạm đội ngoài biển giã vô, làm nát nhừ cái xóm Kinh Ngang hết, không ai ngủ nghê gì được. Đó là hành động trả thù một cách thô bạo của thằng giặc, làm cho ông cháu bác Ba mỉm cười khinh miệt. Không lẽ nhịn thua bọn này ! Sau ba đêm, bác Ba không còn đủ kiên nhẫn chịu đựng nữa, Bác cùng thằng Đậu bàn nhau một kế...
- Chúng tập trung đưa vũ khí vào giúp cho ta, ngu gì không lấy mà dùng ?
Thứ đầu đạn đại bác cải biên làm bom nổ gài bọn đi càn là hết sẩy, hén ông nội ?
Huyện đội ra giá ai nộp được ba đầu đạn ô-buýt là được một giấy khen đó. Phen này giấy khen của ông cháu mình sẽ treo đầy nhà.
Nghe nói thích quá, thằng Đậu cật lực giúp vào kế hoạch lấy đầu đạn của địch với ông nội.
Đêm ấy, hai ông cháu bác Ba ra đứng dưới hàng cây dừa trước cửa. Ngay lúc pháo từ Rạch Ráng bắn vô. Đầu đạn đi thấp, kêu xoèn xoẹt sát bên hông họ, rớt xa xa phía sau nổ ầm ầm.
- Mẹ kiếp ! Để pháo rơi xuống đất là nó nổ, không lấy được.
Nghe ông nội nói, thằng Đậu góp sáng kiến:
- Vậy thì mình đón bắt lấy đầu đạn trên không, rồi vặn ngòi nổ ra.
Thằng nhỏ lẩm rẩm mà khôn. Bác Ba y theo kế hoạch của cháu. Bác đứng khuỳnh tay, nhóng người lên chờ xem một đầu đạn pháo nào bay qua gần sẽ phóng theo chụp lấy. Thằng Đậu lại góp ý:
- Ông nội đã già yếu, khi chụp được đầu đạn, nó còn đà, sẽ lôi ông đi du hành vũ trụ nữa.
Nghe thằng cháu dọa, bác Ba vô nhà lấy ra hai sợi dây niệt trâu, một sợi lớn cột dính hai eo ếch của bác và thằng Đậu vào hai đầu dây, sợi nhỏ bác cột từ eo ếch của thằng Đậu nối vào một gốc cây dừa.
- Chắc ăn rồi đó ! Đầu đạn có lôi ông đi thì có mầy ghị lại, và có lôi mầy thì có gốc dừa ghị lại. Đây là nguyên tắc của hệ thống dây chuyền mà.
Hai ông cháu khoái chí cười tích toác. Rồi bác Ba cũng giương người ra đứng chờ đầu đạn như trước.
Có mấy đầu đạn pháo 105 ly bay qua rất gần nhưng bác Ba chê nhỏ, không thèm bắt lấy. Chốc sau bỗng nghe ngoài Rạch Ráng pháo đề-ba một cái ầm, một đầu đạn 155 ly bay vút tới, sắp cắm vao bụng bác Ba Phi. Bác trớ ngang, nhảy dựng lên thét lên một tiếng “hat” và ôm gọn lấy đầu đạn. Đầu đạn pháo 155 ly còn ngon đà bay lôi bác Ba lên khỏi mặt đất, và cả thằng Đậu nữa, nhưng nhờ cái hệ thống dây chuyền của hai sợi dây niệt trâu lôi lại. Đường dây thẳng căng lên rồi đun đun lại. Dường như đầu đạn pháo chưa chịu thua ông cháu bác Ba Phi, nó lấy sức rướn thêm một cái thật mạnh. Trời đất thánh thần ơi ! Đầu sợi dây cột sát gốc dừa bị đứt bung lên cái bựt. Đầu đạn 155 ly lôi hai ông cháu bác Ba Phi đi thám hiểm không gian luôn. Ông thì ôm cứng đầu đạn, cháu được sợi dây niệt trâu ghịt, kéo theo. Họ nhắm mắt mà chịu, nghe gió rít qua lỗ tai vèo vèo. Mặc dù lâm vào đại nạn nhưng thằng Đậu vẫn còn bình tĩnh. Nó bảo bác Ba :
- Ông nội chồm tới vặn ngòi nổ của trái đạn ra, kẻo khi rớt xuống, đạn nổ, ông cháu mình bị nổ tả tơi hết.
Bác Ba làm theo lời thằng Đậu. Chốc sau đầu đạn mãn tầm vọt xuống một cái binh trên miếng rẫy nào đó làm hai ông cháu bác Ba văng ra nằm mất thở một hồi mới tỉnh dậy được.
Đêm tối mịt mùng. Miếng rẫy của ai khoét giữa một khu vừng cặp mé biển mà làm thế này. Bốn phía là rừng. Ông cháu bác Ba cứ quờ quạng tìm phương hướng, vẫn không biết phải đi đường nào. Hai người bỗng vấp phải một vật gì nằm lù lù chắn ngang, té nhào. À, tới chừng xem lại bác Ba mới biết đó là một trái bí đao. Té ra đây là một miếng rẫy trồng toàn bí đao. Ai mà trồng giống bí đao gì trái to quá cỡ vậy nè ? Tự hỏi, rồi bác Ba dắt thằng Đậu mò đường đi tới, phía trước có túp chòi của người chủ rẫy. Bác Ba vào chòi, nhưng không có ai ở. Hai ông cháu quờ quạng một hồi, bác Ba đụng phải một cây dao của người chủ giắt trên vách. Nảy ra một sáng kiến, bác Ba lấy cây dao dắt thằng Đậu trở ra và thầm thì vào tai nó... Hai ông cháu cười khoái chí. Bác Ba trỏ tay về phía có tiếng sóng vỗ ì ào:
- Sát mé biển. Vậy chắc đây là vùng Bãi Ghe, làm rút để có một chiếc xuồng vượt biển vào cửa sông Đốc mà về nhà !
Thằng Đậu lao vào hè hụi cùng ông nội bổ một trái bí đao thật lớn ra làm đôi. Họ lấy phân nửa, khoét ruột bỏ để lấy nửa cái vỏ trái bí làm chiếc xuồng bơi về.
Làm “chiếc xuồng bí” xong, bác Ba chặt hai khúc cây đẽo dẹp dẹp để làm dầm bơi. Khi đẩy “xuồng” xuống tới lạch nước, bác Ba nghe lạnh quá, dừng lại quơ mớ củi khô bỏ theo, nhóm lửa đốt lên làm lò sưởi. Xuồng ra tới biển, nương theo ngọn sóng lăn tăn, bác Ba cho xuôi hướng về cửa sông Đốc. Gió biển mỗi lúc một lạnh thêm, thằng Đậu bỏ củi khô vào “chiếc lò sưởi” của nó nhiều thêm. Ngọn lửa cháy bập bùng, ấm áp. Chiếc xuồng “bí đao” lướt tới băng băng trên ngọn sóng biển. Thằng Đậu thích chí bảo:
- Chiếc ô-bo của mình đâu thua gì những chiếc pho-ca của quận Nhung, hén ông nội !
Bác Ba cười:
- Tàu mình ở giữa có ngọn lửa giống như những chiếc tàu chạy hơi nước chạy đường Sài Gòn - Nam Vang hồi ông nội còn nhỏ đã thấy.
Nói xong bác Ba móc túi lấy cây kiếng soi đeo vào mắt để làm ống dòm viễn vọng quan trắc trong đêm.


31- ĐI QUANH VỀ TẮT.


Ông cháu bác Ba Phi lái chiếc “xuồng bí đao” lướt sóng băng băng trong đêm, cứ hướng mũi vàm cửa sông Đốc mà thẳng tiến. Bếp lửa “lò sưởi” ở giữa mỗi lúc một cháy cao, ông cháu nghe ấm áp vô cùng. Xuồng đang đi ào ào, bỗng nghe một tiếng bụp nhỏ, rồi nước biển tự nhiên tràn vào. Thằng Đậu ngồi trước mũi, chưa hay cớ sự. Bác Ba thấy chuyện lạ vội giương mắt sau tròng kiếng nhìn kỹ. Cha mẹ ơi ! Chiếc xuồng bí đao bị bếp lửa đốt chín một khúc, rã ra nó sắp vỡ tan rồi.
Bác Ba quát:
- Tàu chìm, nhảy !
Hai ông cháu phóng ùm xuống biển. Chiếc xuồng bí đao rả ra làm hai đoạn. Thằng Đậu hoảng hốt, kêu:
- Ông cháu mình làm mồi cho cá rồi, nội ơi !
Bác Ba bình tĩnh bảo:
- Mỗi người ôm vào một đoạn chiếc xuồng mà nương theo sóng về cửa sông Đốc !
Thế là ông ôm khúc dài, cháu ôm khúc cụt của chiếc xuồng bí đao, một chân đạp nước thay cho chèo, một chân cặp lái, thẳng tiến. Mặt biển sóng gợn lăn tăn, gió thổi hiu hiu, hai người cứ trôi bập bềnh. Để chống cơn buồn ngủ, bác Ba ngáp dài một cái rồi cất tiếng ca một bản vọng cổ thật du dương:
“Đêm khuya cô tịch dưới ánh trăng... ơ... ơ, hơ.. mờ”.
Thằng Đậu cũng bắt chước ông nội, nhưng nó ca tân nhạc, bài Chiến thắng Hòn Khoai:
“Lái con thuyền vượt qua trùng dương này ! Sớm lên đường...”.
Hai ông cháu mải lo ca hát nghêu ngao, chợt nhìn lên thấy trên biển có một vật gì đen sì chắn ngang trước mặt.
- Tới bờ rồi hả ông nội ?
- Không ! Chắc ông cháu mình xiêu ra tới Hòn Khoai rồi.
Trong đêm thằng Đậu tỏ mắt hơn, nó nhìn kỹ rồi bảo:
- Lạc tới chợ Nhà Bè rồi ông nội ơi !
Bác Ba căng mắt nhìn:
- Không phải ! Những nhà lính cất trên bè hạm đội nổi của Mỹ.
Thằng Đậu run cầm cập, lái xuồng cặp sát ông nội, hỏi:
- Mình phải khai là thi hành nghĩa vụ quân dịch mới lội ra nghe lịnh nhập ngũ.
Trong lúc bác Ba còn chưa biết phải tính sao, thì hai ông cháu đã tấp vào cái bè hạm đội nổi của Mỹ đóng tại cửa sông Đốc. Túng thế phải tùng quyền. Bác Ba rờ rẫm từng phao bè, tìm được chỗ thấp, lôi cháu nội leo lên. Hai người vận dụng phương pháp đặc công lén đi xem xét hết bè này tới bè khác. Khu hạm đội nầy lớn tựa một thị trấn. Có chỗ bọn lính còn xúm lại ăn nhậu la hét om sòm, có chỗ chúng tổ chức khiêu vũ nhảy nhót ạch đụi. Bác Ba dẫn thằng Đậu mò tới cái phao thật lớn. Chỗ này bọn giặc đã ngủ êm re. Thằng Đậu thì thào:
- Tụi nó đốn dừa làm chi mà đem về dựng đứng đặc gật vậy ông?
Bác Ba sửa lại cây kiếng trên mắt:
- Đó là “câu lạc bộ của những ống khói tàu”.
Bác Ba biết mình nói không có lý nên xem kỹ hơn, chợt bác kêu lên:
- Mẹ kiếp, trận địa pháo của hạm đội đó.
Hai người yên tâm mò tới. Họ thấy từng nòng pháo một đều chĩa xiên về một phía, biết đó là hướng bờ biển, bác Ba thì thào:
- Xuống nước, lội về phía này để dễ vô bờ.
Thằng Đậu buồn ngủ quá, đề nghị:
- Nằm mẹ dưới chân pháo ngủ một giấc rồi sẽ tính, ông nội !
Bác Ba chiều cháu. Hai ông cháu ôm nhau nằm ngủ dưới một khẩu pháo lớn nhất trong cụm. Nhưng mới mơ màng bị gió biển thổi lạnh quá, bác Ba bảo:
- Ông cháu mình chui vô nòng cây pháo mà nằm ngủ cho ấm !
Vì mệt mỏi từ đầu hôm tới giờ, khi hai ông cháu bác Ba Phi chui được vào nòng pháo, ôm nhau nằm co đánh một giấc thẳng nghỉnh. Giấc mộng còn say sưa, họ bỗng nghe bên ngoài có tiếng chấn động mạnh, rồi tiếng nạp đạn vào pháo đánh rốp làm hai người co rúm toàn thân. Thằng Đậu kêu lên như rên:
- Tụi Mỹ thụt một cái hai ông cháu nhừ ra như chả cá rồi, ông ơi!
Bác Ba an ủi thằng cháu:
- Yên chí ! Ông cháu mình sẽ quá giang chiếc phi thuyền này đi về đất liền cho mau.
Nói xong bác Ba mò mò vặn tháo lấy ngòi nổ của đầu đạn pháo, rồi bảo thằng Đậu ôm chặt vào eo ếch bác, bác thì ôm chặt vào cái đầu viên đạn pháo này.
Bên ngoài, tụi pháo binh hạm đội nổi Mỹ hô hét giọng xì xồ xì xào, rồi một tên thét lớn như nạt. Tức thì bác Ba nghe một tiếng “ầm” chấn động phía dưới đít mình, rồi đầu đạn pháo vọt lên không trung mang theo hai ông cháu cùng bay đi. Có lẽ đầu đạn pháo bay nhanh quá ma sát vào không khí nên bác Ba nghe cái khối sắt nóng ran.
Đầu đạn pháo của hạm đội nổi Mỹ mang hai ông cháu bác Ba Phi bay đi đến trời hừng đông, mãn tầm rơi xuống một vùng đất ruộng nào đó một cái binh, làm hai người nằm mất thở lâu lơ. Khi tỉnh lại, bác Ba Phi sửa lại cây kiếng trên mắt, quan sát cẩn thận. Rõ là miếng ruộng của nhà bác. Thằng Đậu cũng đã tỉnh nhưng nó còn hơi rêm mình. Bác Ba cũng nghe đau mình, với tay đấm đấm vào sau eo ếch. Chợt bác chạm phải khúc sợi dây niệt trâu hôm qua bị đứt còn lại. Sẵn dịp, bác cột vào cái đầu đạn đại bác, hai ông cháu kéo thẳng về công trường của huyện đội nộp luôn để lãnh giấy khen.



_______________________________________________________



CÒN TIẾP....



ANH ĐỘNG

© CẤM ĐĂNG TẢI LẠI NẾU KHÔNG CÓ SỰ ĐỒNG Ý CỦA TÁC GIẢ


TRANG CHÍNH TRANG THƠ ĐOẢN THIÊN BIÊN DỊCH HỘI HỌA ÂM NHẠC