TÁC GIẢ
TÁC PHẨM




ANH ĐỘNG



. Tên thật Nguyễn Việt Tùng
. Sanh năm 1941 tại Vĩnh Thuận - Kiên Giang
. Hiên cư ngụ tại Thị Xã Kiên Giang
. Hội viên Hội Nhà Văn Việt Nam, Hội Văn nghệ Dân Gian Việt Nam

TÁC PHẨM ĐÃ XUẤT BẢN :

. Bác Ba Phi (tiểu thuyết)
. Bóng núi Tô Châu (tiểu thuyết)
. Xôn xao đồng nước (tiểu thuyết)
. Dệt chặng đường xuân
. Đường về Miệt Thứ (ca cổ).....








TIỂU THUYẾT


BÁC BA PHI - PHẦN I (1 & 2)

BÁC BA PHI - PHẦN I (3 & 5)

BÁC BA PHI - PHẦN I (6 & 7)

BÁC BA PHI - PHẦN II (8 & 9 & 10)

BÁC BA PHI - PHẦN II (11 & 12 & 13 & 14)

BÁC BA PHI - PHẦN II (15 & 16 & 17 & 18)

BÁC BA PHI - PHẦN III (19 & 20 & 21 & 22)

BÁC BA PHI - PHẦN III (23 & 24 & 25 & 26)

BÁC BA PHI - PHẦN III (27 & 28)

BÁC BA PHI - PHẦN IV: CHIẾN TRANH (29 & 31)

BÁC BA PHI - PHẦN IV: CHIẾN TRANH (32 & 35)

















































BÁC BA PHI


LỜI NGƯỜI VIẾT

Chuyện nguyên mẫu của bác Ba Phi chỉ nói về thiên nhiên giàu đẹp của xứ sở U Minh, nơi quê hương đang sống, nào rắn rùa, tôm cá, chim chuột tuyệt đối không có chuyện nào nói đến chiến tranh cả. Cuộc kháng chiến chống Mỹ mỗi lúc một ác liệt, chuyện bác Ba Phi mỗi lúc một phát triển đa dạng, lan truyền nhanh, nhân rộng theo những “kênh” đường dây giao liên, vận tải, theo đường hành quân, nơi ăn ở của bộ độ, cơ quan cách mạng. Cứ cái mô-típ gài cốt chuyện rồi tạo một thắt nút có kịch tính phóng đại nhảy vọt, mạnh ai nấy sáng tác rồi đổ thừa đó là truyện của bác Ba Phi. Có những “môn đồ” muốn thuyết phục người nghe còn thề bán mạng là chính mình ngồi giáp mặt bác Ba nghe kể chuyện vào trường hợp nào... nào đó, số môn đồ đó không loại trừ tôi.
Tôi nhớ không lầm, mãi cho đến những năm giặc bình định ác liệt, có nghĩa là vào đầu Việt Nam hóa chiến tranh, từ chiến trường 1C, tôi là người “đưa” bác Ba Phi tham gia vào chiến tranh.
Chiến trường ác liệt đến người ta tưởng tượng rờ đâu cũng đụng cái chết, gian khổ đến thân thể lính ta vào những mùa nước bị ghẻ lác loang lở từ “lỗ chiếu môn đến đỉnh ruồi”. Và đói khát, bệnh hoạn đến vàng da, rụng trọi tóc. Con người cần có tiếng cười như tim cần có máu. Phương tiện chiến tranh hiện đại của địch ở đây thường dùng áp đảo ta ngoài máy bay “cán gáo” còn pháo bầy, tàu binh các loại, trực thăng vận và xe lội nước. Để mượn bác Ba Phi giải tỏa bớt nỗi “ớn xương sống” các loại nầy ở lính ta, tôi nghiên cứu đưa bác ra hàng thế trận diệt chúng từ từ... Đến khi chấm dứt cuộc chiến tranh chống Mỹ, chuyện bác Ba Phi vẫn còn là văn học truyền khẩu, chưa thấy xuất hiện thành văn ở sách báo nào...
Có lần tôi thầm thì với bác Nguyễn Tuân về ý định muốn đưa chuyện truyền khẩu bác Ba Phi vào văn học. Bác Tuân khuyến khích ngay:

“Cậu mổ xẻ ông Ba Phi trên mảnh đất của cậu, bằng con dao của cậu rồi xào nấu với nguyên liệu riêng của cậu, nó sẽ trở thành một món đặc sản thích hợp khẩu vị bạn đọc hơn bất kỳ ai”...

- ANH ĐỘNG -




PHẦN IV: CHIẾN TRANH

32 & 35




32- NGUYÊN TẮC ĐÒN BẨY.

Xóm Lung Tràm và Kinh Ngang nộp đầu đạn đại bác lên trên rất nhiều, ai cũng có lãnh giấy khen. Gia đình bác Ba Phi cũng vậy. Sau đó công trường huyện cải biên thành nhiều loại chất nổ, cung xuống. Du kích xã lãnh loại bẹâ phóng, hất nổ ầm ầm vào chi khu Rạch Ráng. Du kích ấp thì gài mìn đầu gạt chống càn, bộ binh ngụy ngã làn khân... Kẻ được tặng danh hiệu dũng sĩ, người bằng khen, giấy khen, phong trào chống giặc giữ làng lên như nước triều đầu tháng làm ông cháu bác Ba Phi cũng nôn, phải làm gì để lập công ? Hai ông cháu bàn nhau:
- Lãnh cái đầu đạn 150 ly của mình về đánh ăn lớn, nghe ông nội. Con sẽ làm bệ đánh tàu sắt.
- Để nội thí nghiệm kiểu đánh “khinh khí cầu ném bom” cái đã.
Ông cháu bác Ba đến xã đội nhận cái đầu đạn lớn của mình về, và xin thêm một đầu đạn nhỏ đánh thí nghiệm, mặt khác bác bảo bác gái đi Cà Mau mua về một ký lô bong bóng, nửa ký dây ni lông, cùng một mớ khí đá.
Quân khí đầy đủ, ông cháu bác Ba bèn bày trận đánh. Trước hết họ đánh chiến thuật “kinh khí cầu”. Bác Ba bơm hơi khí đá vào bong bóng, tuần tự cột từ cái vào đầu đạn nhỏ, cột cho đến khi chùm bong bóng cất lên mang theo đầu đạn bay đi là là. Đầu đạn được treo cho ngòi nổ chúc xuống đất. Bác Ba bảo thằng Đậu cứ bơm và cột bong bóng thêm, để đủ sức mang đầu đạn bay lên thật cao. Trong khi thằng Đậu làm việc ấy, bác Ba dùng một sợi dây nilông thật dài buộc vào chùm bong bóng bay. Bác nói:
- Lúc nào thấy kinh khí cầu của mình bay đến ngay trên chi khu Rạch Ráng là ông nội giật dây nầy, bong bóng bể, làm bom rơi ngay đầu quận Nhung.
Thằng Đậu khoái chí cười nói huyên thuyên. Nó còn cất tiếng ca nhái theo bài thơ của Phạm Tiến Duật: “A ha ! Bay không cánh, bởi vì máy bay không có cánh. Cột bong bóng vô đánh bể cánh rồi...”.
Ông cháu bác Ba trèo lên cây xoài trước cửa xem chùm khinh khí cầu của mình chở bom đến chi khu Rạch Ráng. Bác Ba cầm sợi dây dụi của phi thuyền xả ra từ từ theo độ bay đi. Chùm khinh khí cầu mang cái đầu đạn 28 ký lô bay đi tòn ten, cứ bay bê qua bê lại chậm rì, nhưng chúng vẫn được bác Ba lái đúng hướng bay. Hôm nay nhằm ngày ít gió, khinh khí cầu bay đi chậm quá. Đợi lâu đói bụng, thằng Đậu rủ ông nội tuột xuống ăn cơm. Bác Ba chiều cháu cùng tuột xuống, vô nhà. Ngồi ăn cơm nhưng cuộn dây dụi của khinh khí cầu, bác Ba quấn vào đầu ngón chân cái, xả từ từ theo tốc độ bay.
Trong lúc ông cháu ngồi ăn cơm có con chó Đuổi ngóc mỏ chực xương một bên. Con Đuổi thấy con heo nái từ ngoài đi vào hỉnh hỉnh mỏ, nó sợ giành xương, lao vào ngầu một cái. Con heo nái giật mình bỏ chạy, chẳng ngờ đâm sầm vào sợi dây của bác Ba đang cột ở ngón chân cái. Sợi dây dụi lái chùm khinh khí cầu cũng đồng thời là dây giựt ngòi nổ bị lôi mạnh theo đà chạy của con heo nái làm bác Ba té ngửa, tức thì từ phía xa xa có tiếng nổ long trời.
Đang nằm ngửa dưới đất hất râu lên, bác Ba kêu trời như bộng:
- Chết mẹ ! Sẽ có án mạng rồi.
Thằng Đậu buông chén đũa, nhìn ông nội rồi nhìn về phía xa xa, sợ xanh máu mặt.
Chiều hôm đó bác Ba Phi bị tổ nông hội mời họp kiểm điểm. Đến tối mới về tới nhà. Bác Ba nhìn thằng Đậu, thở ra. thằng Đậu vội hỏi:
- Ở tù hay tử hình thường mạng, hở ông nội ?
Bác Ba gieo mình xuống ghế:
- Thường...
Thằng Đậu vụt khóc òa lên:
- Chiến tranh mà, tại rủi ro chớ ai muốn ?
Nhưng bác Ba lại quả quyết:
- Cuộc họp xử mình phải thường. Trái bom rơi ngay bầy vịt của Hai Lên, chết mất hai con của người ta.
Thằng Đậu chưng hửng lên rồi vỗ tay cười ngất:
- Vậy là chưa sao ! Chơi nữa !
- Chơi nữa !
Bác Ba cũng đồng thanh theo cháu. Hai người bàn tính cách đánh mới, dùng trái đạn 150 ly còn lại.
Ông cháu bác Ba vác búa ra vườn đốn một cây cau lão nhất, với một cây tràm có nạng, đêm ấy hai người chở theo cả trái đạn lớn ra gần chi khu Rạch Ráng, bày trận thế quyết ăn thua với bọn quận Nhung. Họ xốc nạng gác chổng đầu gốc cây cau lên, đầu ngọn cột trái đạn vào.
- Đánh theo nguyên tắc đòn bẩy, Đậu ạ !
Bác Ba cột thêm một sợi dây có mối giựt chỗ đầu đạn và bảo thằng Đậu như vậy. Thằng Đậu thì cứ lo công việc của mình. Nó cột từng cục đá cục gạch vào gốc cây cau. Sức nặng ở đầu gốc cau mỗi lúc một tăng, trái đạn treo đầu ngọn từ từ cất lên. Bác Ba để cho đòn bẩy cất lên đúng độ mới bảo thằng Đậu nghỉ tay.
- Qui luật là đúng sáu giờ sáng bữa nào thằng quận Nhung cũng tập họp lính ra giữa sân xếp hàng để chào cờ, ta rê đòn bẩy qua mà hành động.
Quả đúng như lời bác Ba. Mặt trời vừa ló lên là mẹ con quận Nhung tập trung ra đứng đầy nghẹt trước sân để chào cờ. Bác Ba leo lên cây, mang kiếng soi vào, cầm sợi dây lái điều chỉnh cho ngọn đòn bẩy rề vô chi khu. Thằng Đậu đứng dưới nhìn lên chờ đợi đến trống ngực đánh nôn, làm són đái hoài. Đến khi nó nghe từ chi khu Rạch Ráng vọng lại một điệu đồng ca rền rền: “Nầy công dân ơi, quốc gia đến ngày giải phóng”.
Đậu thét lên:
- Giải phóng cho chúng đi, ông nội !
Tức thì bác Ba từ trên ngọn cây giật mạnh sợi dây, trái đạn pháo 150 ly đằng đầu ngọn đòn bẩy rơi ngay xuống sân chi khu Rạch Ráng, nổ một tiếng long trời, lở đất. Một bựng khói dựng lên đen một vùng trời...
Ngày hôm sau, ông cháu bác Ba Phi, trong một cuộc mít tinh ở xóm Kinh Ngang, cả hai đứng nghiêm trên lễ đài, run run hai tay đón lấy cái bằng dũng sĩ Quyết Thắng cấp ưu tú, do một đồng chí đại diện tỉnh đội Cà Mau trao cho.

33- CUỘC ĐỐI MẶT VỚI QUẬN NHUNG.

Bị pháo “đòn bẩy” nện một trận quá nặng, quân lính chết chẵn chục, quận Nhung bứt đầu đấm ngực, chửi thề ỏm tỏi:
- Kiểu đánh này là của Ba Phi chớ không ai có cách đánh cắc cớ như vậy được, phải trị tội thằng cha già dóc tổ này mới nghe.
Tên quận Nhung lịnh cho tiểu đội biệt kích đang đêm long theo kinh vô xóm Kinh Ngang, bao bắt hai ông cháu bác Ba Phi đem về quận trị tội.
Đang ngủ say, bác Ba cùng thằng Đậu bị bọn biệt kích lôi dậy, chĩa súng vào ngực:
- Nhúc nhích là bóp cò !
Thằng tiểu đội trưởng hăm dọa. Bác Ba tỉnh bơ:
- Có gì phải quấy nói nhau nghe, chơi chi súng ống, ghê quá !
Tên lính ngụy hự hẹ:
- Cha tôi nói cũng không lợi ông nữa, ông Ba Phi ạ !
Thế rồi bọn lính biệt kích ngụy lấy xuồng chở ông cháu bác Ba Phi về chi khi Rạch Ráng. Trên đường đi, lạnh quá, thằng Đậu ngồi áp sát vào ông nội, thì thào:
- Chắc ở tù rục xương quá, ông nội.
- Yên chí ! Bắt Ba Phi như bắt cóc bỏ vô dĩa vậy thôi.
Bọn giặc đem ông cháu bác Ba về chi khu, tống giam vào “chuồng cọp”, rồi bỏ đi ngủ. Sáng ra tên quận Nhung sai lính dẫn ông cháu bác Ba lên công sở. Vừa trông thấy hai ông cháu, mặt tên quận Nhung hầm hầm, hỏi:
- Có phải ông đánh bom cần vọt vào tụi tui không ?
Bác Ba trả lời tỉnh bơ:
- Làm gì có chuyện đó. Quạân trưởng chưa từng nghe danh Ba Phi này sao ?
- Danh tiếng nói dóc của ông thì ai không biết.
- Vậy thì tôi nói có.
Quận Nhung gạt ngang:
- Ông nói dóc tổ, ai tin được ?
Bác Ba vuốt râu cười khà khà:
- Không tin được thì quận trưởng cho ông cháu tôi về nhà vậy.
Tên quận Nhung ngớ người ra, hắn chợt hiểu là mình đã thua trí bác Ba Phi. Hắn cười gượng:
- Tôi cũng tin vậy, ông già cả rồi, chỉ có tài nói dóc thôi. Hễ cái gì ông bảo có là nói dóc, chỉ có một tài ấy.
Bác Ba xửng cồ lên:
- Còn nhiều tài khác nữa chớ.
- Tài gì ?
- Tài đánh ngụy đuổi Mỹ nè ! Tài vận động quần chúng chống giặc giữ làng nè...
Tên quận Nhung nhăn mặt, bụm tai, la lớn:
- Thôi, thôi ! Đừng có nói dóc !
Bác Ba Phi lại vuốt râu cười khà khà:
- Bảo nói dóc thì thôi !
Tên quận Nhung lại ngớ người, biết mình thua trí bác Ba lần nữa. Bây giờ hắn phải đóng vai trò chủ động mới được. Nghĩ vậy, quận Nhung đằng hắng làm ra vẻ tươi cười:
- Tôi nghĩ ông có đánh bom nhưng tôi không tin ông nói bất cứ một điều gì.
Bác Ba chận lời hắn:
- Vậy chớ có nhiều người tin lắm đó.
- Đừng hòng. Đâu ông tìm chuyện gì nói cho tôi tin thử xem !
Bác Ba Phi bí quá, đưa tay gãi gãi mấy đám hắc lào ở cổ:
- Tôi biết tìm chuyện gì bây giờ ?
Tên quận Nhung cười đắc thắng:
- Ví dụ cái chuyện lớp da cổ của ông, bị người ta dùng lưỡi hái cắt cho sần sùi vậy đó.
Bác Ba Phi vụt nhỏm người lên:
- Đâu phải lưỡi hái cắt !
- Vậy chớ tại sao ?
- Tại một lần đi mua xi măng ở chợ Cà mau.
- Mua xi măng gì mà sần da cổ ?
- Lúc chở xi măng về, chạy vỏ lãi theo, nước xuôi sông Đốc, về đến ngang rượng đáy Bến Mã...
- Rượng đáy ra sao ?
- Có một sợi dây thép căng từ đầu cột đáy vô bờ, nước chảy, cột đáy quật sợi dây quất vào không khí kêu “trót, trót”. Trời về đêm phần già cả sờ sệt tôi ngồi sau kềm máy và vấn thuốc hút. Bất thần chiếc vỏ lãi lao theo nước xuôi, chui qua sợ dây thép căng cột đáy đánh một tiếng “rẻng”. Qua khỏi, tôi kẹp điếu thuốc đưa lên môi hút, nào ngờ đút lọt tuốt vào cuống họng, cảm thấy máu tuôn ra nóng hổi bàn tay. Té ra sợi dây thép gạt ngang ngọt quá, nên cái đầu tôi văng mất hồi nào không hay...
Tên quận Nhung sững sờ, chồm tới:
- Trời ! Rồi làm sao ?
Bác Ba chậm rãi tiếp:
- Tôi ném điếu thuốc, mò mò đụng cái đầu, liền lượm lên gắn lại vào cổ, rồi hốt xi măng tô chung quanh. Bởi vậy bây giờ lớp da cổ của tôi mới sần sùi như vậy ?
Tên quận Nhung vỗ đùi đánh đốp, cười vang:
- Thật là thú vị cho một cách nói dóc, nhưng nghệ thuật như vậy mà ai tin cho được ?
Bác Ba mỉm cười:
- Bởi quận trưởng bắt tôi nói ngang xương, không dựa theo sách vở nên sơ hở vậy đó.
Quận Nhung ngạc nhiên:
- Vậy ra lâu nay ông nói dóc có sách à ? Hèn nào nổi tiếng cũng phải. Ông cứ dựa theo sách nói một chuyện cho tôi tin xem nào !
Bác Ba uể oải thở ra:
- Ban đêm ban hôm lính đến bao nhà bắt dẫn đi, có kịp mang sách vở gì theo đâu ? Nếu quận trưởng cho về nhà lấy sách thì cũng có thể…
Tên quận Nhung ngẫm nghĩ:
- Ông về nhà trốn luôn rồi sao ?
Bác Ba Phi dứt khoát:
- Tôi để thằng cháu nội ở lại đây làm con tin.
Quận Nhung đồng ý, bảo bọn lính lấy xuồng đưa bác Ba Phi về nhà lấy sách nói dóc. Trước khi bước xuống xuồng, bác Ba đưa mắt nháy nhó thằng Đậu mấy cái. Thằng nhỏ hiểu ý, làm thinh. Bác Ba hất mặt bảo quận Nhung:
- Nếu tôi nói dóc mà ông tin thì sao ?
Quận Nhung vung tay lên thề:
- Thì ông yêu cầu gì tôi cũng giải quyết hết !
Hai tên lính ngụy bơi xuồng đưa bác Ba Phi về tới nhà. Bác bảo họ cứ thư thả ngồi uống trà rồi sẽ về. Hai tên lính ngạc nhiên, hỏi:
- Bác không cùng về chi khu à ?
Bác Ba cười khà khà:
- Tôi nói dóc quận trưởng tin rồi ! Hai chú về nói với quận trưởng giải quyết đưa thằng cháu tôi về cho đúng lời hứa.
Hai tên lính ngụy lủi thủi bơi xuồng về báo lại. Tên quận Nhung biết mình mắc điếm Ba Phi, hắn tức như bò đá vào dái. Nhưng không còn cách nào khác, hắn đành phải sai tên lính bơi xuồng đưa thằng Đậu về.
Ngồi giữa xuồng, thằng Đậu khoác tay từ giã quận Nhung.
Nhìn thằng nhỏ hí hửng, quận Nhung càng tức, bảo:
- Tao chịu thua ông cháu mầy một lần này thôi nghe !
Thằng Đậu cười mín:
- Quận trưởng ráng thủ, coi chừng bị thua nhiều vố nữa…

34- QUẬN NHUNG TRỞ MẶT.

Tuy thả thằng nhỏ về nhưng quận Nhung tức ấm ách đến đỏ lỗ mũi, đứng chống hai tay vào háng, chửi thề:
- Thằng Nhung này không trị ông cháu Ba Phi một cú thích đáng, thề không làm quận trưởng nữa !
Tên tham mưu ló đầu ra thưa:
- Quận trưởng trở mặt như vậy, tôi e rằng sẽ mất uy tín với thiên hạ.
- Tao có miếng uy tín nào đâu mà mất ?
Nhung vừa thét ẩu vì cơn giận rồi liền trở quẻ:
- Sợ mất uy tín với một thằng già nói dóc ? Không đời nào ?
Quận Nhung truyền lịnh cho một tốp lính biệt kích bịt mặt nạ, chuẩn bị đột nhập vào Lung Tràm bắt ông cháu bác Ba Phi lần thứ hai.
Thấy thằng Đậu về tới, bác Ba Phi chạy ra mừng cháu, Đậu bảo:
- Coi vậy mà quận Nhung cũng giữ đúng lời hứa, hén ông nội ?
- Cái bọn tay sai đó sớm nắng chiều mưa, làm sao tin được.
Vô nhà cuốn chiếu mùng ôm ra, bác Ba bảo:
- Ông cháu mình ra sau vườn luyện ổ ong vò vẽ làm đội quân ngăn phòng đám biệt kích giặc cho chắc ăn.
- Ông nội là tư lịnh, con là tham mưu, còn bầy ong là binh lính.
Hai ông cháu giăng mùng trên bờ đìa, cạnh một ổ ong vò vẽ bự bằng cái trống trầu, đóng ở cành cây xoài. Tấn mé mùng xong xuôi, bác Ba bảo:
- Ông nội chọi trước, lần sau tới mầy.
Thằng Đậu ngồi trong mùng ngó ra. Bác Ba cầm cục đất đi gần lại ổ ong. Bất thần bác chọi vào rồi tốc chạy trở lại, dở mé mùng chui vô.
Ong vò vẽ bị bể ổ bay túa ra, đuổi ào ào theo bác Ba. Ong bu đen ngoài vách mùng. Hai ông cháu ngồi bên trong vỗ tay cười ngặc ngẽo.
Lần sau tới phiên thằng Đậu phải ra chọi ong để tập cho ong hung hăng. Thằng Đậu cầm cục đất đi lọm khọm lại, nó thấy mà ớn xương sống. Đậu rụt rè một chút rồi vung tay táng cục đất vào ổ ong.
Nhưng mấy con ong bên ngoài đã kịp bu vào đốt lên đầu thằng Đậu. Đau quá, Đậu thét:
- Tiếp con ông nội ơi !
Bác Ba ngồi trong mùng ngó ra, tuy nóng ruột nhưng không biết làm sao tiếp cháu cho được. Bác thét:
- Ông nội tao tiếp cũng không được. Chạy vọt chui vào mùng !
Tay bác dở hé mé mùng lên. Thằng Đậu chui vào. Có mấy con ong chui theo. Ông cháu bác Ba bị ong vò vẽ đốt lúng túng lùng tung trong mùng. Họ nhào lăn quấn lộn một hồi, mùng bị sập. Hai người vẫn lăn lộn vì bị ong đốt. Cái mùng quấn sát vào người họ. Lũ ong bên ngoài bu vào đốt đen nghẹt !
- Ong vò vẽ ba mặt giáp công mình, ông nội ơi !
Hai người lăn lộn một hồi, một người còn nằm trên bờ, một người đã lọt xuống đìa. Cái mùng chằng ra, bể tung. Hai ông cháu bác Ba vừa lăn vừa chạy trối chết với lũ ong vò vẽ. Chiều hôm đó, hai ông cháu bò đến gần ổ ong vò vẽ đặt một cái bẫy dài. Bác Ba nói:
- Tụi biệt kích mò vô đạp nhầm máy bẫy, cần bẫy sẽ quất vào ổ ong.
- Con đặt thêm một cần nữa để quất vào giò tụi biệt kích, nghe ông nội ?
Thằng Đậu lại đặt thêm một cần bẫy nữa để quét chân bọn biệt kích.
Làm xong, hai ông cháu bác Ba dắt nhau ra về. Bác Ba nói:
- Thử coi một trung đội của quận Nhung có đương cự nổi với một sư đoàn "lính ong" của mình không cho biết.
- Chuyến này cho những bản mặt tụi rình mò sưng bằng cái sàng gạo chơi, hén ông nội !
Mờ sáng hôm ấy, đám lính biệt kích của quận Nhung đeo mặt nạ, tay cầm súng lăm lăm tiến vào khu vườn của bác Ba Phi. Chúng vừa đến gần gốc xoài đầu bờ, bỗng nghe từ dưới đất bật lên tiếng "vút". Một cần bẫy bằng cây tre tầm vông lớn quét ngang mặt đất, đập vào chân bọn giặc lụp bụp. Bọn chúng kêu "ái ôi" và nhảy dựng dựng lên. Sau đó bọn chúng lột mặt nạ ra để quan sát coi chuyện gì đã xảy ra. Nhưng lại bất thần một tiếng vút nữa phát lên. Một cần bẫy khác quật đúng vào xổ ong vò vẽ trên cành cây xoài. Một nửa xổ ong bị bể, rớt xuống ngay giữa đám lính biệt kích. Hàng ngàn con ong vò vẽ ào ra đen trời. Ong bu vào những tên biệt kích, cắn đốt không thương tiếc. Bọn lính vừa đập, vừa phủi, vừa la hét: "Ôi trời ơi ! Ôi trời ơi " rùm trời. Chúng càng đập phủi chừng nào thì ong càng bu vào cắn đốt chừng nấy.
Ông cháu bác Ba núp sau một bụi tre ló đầu ra cười:
- Bọn lính đang khiêu vũ đằng kia kìa, ông nội !
- Chúng nhảy bài "Sóc Bom Bo" của nhạc sĩ Xuân Hồng đó.
Bọn biệt kích bị ong vò vẽ đánh quá cỡ, ôm đầu chạy quay về quận. Ông cháu bác Ba Phi đứng sau bụi tre ló cổ ra gọi lớn:
- Nhắn với quận trưởng là ong vò vẽ đánh chớ không phải Ba Phi đánh các anh, nghe hông !
- Các anh chạy về trình "cái đại diện" (cái mặt bự) đó với quận trưởng xem, nghe không ?

35- LÍNH BỘ ĐÁNH THUỶ.

Đám biệt kích về tới quận, kêu réo om sòm:
- Quận trưởng ơi ! Tụi tui bị Ba Phi vỗ mặt.
- Quận trưởng ơi ! Tụi tui bị Ba Phi hốt giò.
Đứa thì đưa cái mặt bự, đứa lại nhảy cò cò cặp chân đau. Quận Nhung tức mình chạy ra, đứng chống hai tay vào háng, thét:
- Đứa nào đại diện cho tốp biệt kích này, báo cáo tình hình tao nghe !
Bởi vì mười mấy tên biệt kích đều bị ong vò vẽ đốt mặt mày sưng vù như nhau, làm quận Nhung không thể tìm ra tên chỉ huy. Tất cả đều tiến lên, đưa tay: "Tôi". Tên nào cũng muốn khoe cái mặt "bự" của mình với quận trưởng để lập công. Quận Nhung bực tức:
- Đại diện là một thằng thôi chớ !
- Thưa quận trưởng, tất cả chúng tôi đều "đại diện" cả đây mà.
Quận Nhung đuổi tụi lính biệt kích bại trận ra. Hắn tập hợp một đại đội bộ binh, giao cho nhiệm vụ:
- Chúng bây bao vây đánh úp vào Lung Tràm, bắt ông cháu Ba Phi cho tao.
Trong xóm Lung Tràm, bác Ba Phi bảo thằng Đậu:
- Thằng quận Nhung không chịu thua ông cháu mình đâu, phải chuẩn bị chống càn một trận nữa.
- Vậy mình làm chiến thuật "càn quét" chơi với chúng, hở ông nội?
Hai ông cháu bác Ba xách búa ra đốn mấy trăm cây tre, nào tầm vông, nào mạnh tông, tre xiêm đem đóng cọc làm "bẫy quét" đặt khắp các ngả đường. Đặt chung quanh khu vườn của họ xong, hai người vác đi đặt dài theo hai bên bờ con Rạch Lùm, hai bên bờ con kinh Công Nghiệp.
- Bọn lính bị đánh đau nhất định phải chạy về chi khu bằng hai con đường này thôi.
- Trước hết mình chống càn, sau đó mình đánh tỉa, hén ông nội ?
Ông cháu bác Ba đặt bẫy xong, trở về núp phía sau bụi tre để theo dõi tình hình địch. Bác Ba móc túi lấy cây kiếng già đeo lên mắt mà quan sát.
Đại đội bảo an của quận Nhung đang ào ạt kéo tắt đường đồng, từ phía chi khu Rạch Ráng đổ vào. Tên nào cũng lăm lăm khẩu súng trên tay. Tên đi trước nhắc chừng chừng những tên đi sau:
- Chú ý trên các cành cây, hễ thấy chỗ nào có ong vò vẽ thì phải tránh cho xa.
Khi tới mé vườn, bọn lính bộ binh chia ra thành nhiều mũi, hè nhau tiến vô:
- Xung phong !
- Xung phong, bắt sống ông cháu Ba Phi đem về cho ong vò vẽ đốt sưng mặt lại trả thù !
Bác Ba Phi ngồi sau bụi tre ung dung hút thuốc, gật gù cười:
- Chút nữa cho tụi mầy nhảy tăng-gô chớ trả thù.
Thằng Đậu phụ họa thêm:
- Trước hết chúng nhảy nai, sau đó khụy xuống làm bò, hén ông nội ?
Bọn bộ binh ngoài kia hô hào tiến vô. Đợi chúng vào đúng tầm, bác Ba Phi đưa tay gỡ cây kiếng ra, bỏ túi, và hô:
- Giật dây ! Nè !
Tức thì đằng kia một cần bẫy bật ra, quét vào giò bọn giặc. Ba bốn tên đi đầu nhảy cẫng lên kêu: "Ôi trời ơi !". Rồi ngã quỵ xuống, bò bốn cẳng, tháo đầu trở ra. Đám giặc còn lại nhốn nháo chạy sà đùa, chúng đạp phải những máy bẫy. Từng cần bẫy bằng tre tầm vông quét ra một cái, có ba tên giặc ngã quỵ. Lính bộ binh của quận Nhung la khóc rùm trời, ngã té làng khang như đốn củi. Cuối cùng là những cần bẫy bằng tre mạnh tông. Mỗi cần bật lên cái vút là có đến năm tên giặc nhảy nai, rồi quỵ xuống làm bò.
Bọn giặc cứ bò lết theo bờ Rạch Lùm và kinh Công Nghiệp mà quay trở về Rạch Ráng. Nhưng trận địa "bẫy quét" của ông cháu bác Ba Phi đâu có tha. Nhữngcần bẫy đặt dọc theo hai bên bờ bật lên liên tiếp. Từng đòn trí mạng cứ quất bôm bốp vào những "con bò" bại trận kia.
Bác Ba cùng thằng Đậu xung phong ra:
- Phải cho bọn chúng què chân thành con bánh ít hết, nghe ông nội ?
- Nhất định phen nầy ông đổi phiên hiệu binh chủng của chúng từ lính bộ trở thành lính thủy.
- Có nghĩa là… làm sao, hở ông nội ?
Hai ông cháu bác Ba Phi đuổi theo bọn giặc dài ra bờ kinh.
- Đậu, coi đây ! Lính bộ thành lính thủy là như vầy nè !
Nói xong, bác Ba giật dây bẫy một cái là có đến bốn năm tên lính bảo an bị bẫy quét quăng xuống sông. Chân cẳng đều bị bại liệt hết, trèo lên không nổi, bọn giặc buộc phải long kinh lội về. Những tên còn sót lại trên bờ, lần lượt bị những cần bẫy đặt hai bên đường quét cho nhào tuốt xuống sông. Cả đại đội giặc thi nhau lội hì hụp tựa một bầy cá nược, hướng về phía chi khu Rạch Ráng.
Thằng Đậu trông thấy khoái chí, đi dài dài trên bờ vỗ tay ca bài: "Tiếng đàn Ta Lư" của nhạc sĩ Huy Thục.
- Tính, tính, tính, tang, tang, tình ơ trông kìa ! Hai, ba, bốn chục tên lính bộ đánh thủy ngụy kia… Anh bộ đội giải phóng quân ơi ! Hờ ơi!".



_______________________________________________________



CÒN TIẾP....



ANH ĐỘNG

© CẤM ĐĂNG TẢI LẠI NẾU KHÔNG CÓ SỰ ĐỒNG Ý CỦA TÁC GIẢ


TRANG CHÍNH TRANG THƠ ĐOẢN THIÊN BIÊN DỊCH HỘI HỌA ÂM NHẠC