TÁC GIẢ
TÁC PHẨM




ANH ĐỘNG



. Tên thật Nguyễn Việt Tùng
. Sanh năm 1941 tại Vĩnh Thuận - Kiên Giang
. Hiên cư ngụ tại Thị Xã Kiên Giang
. Hội viên Hội Nhà Văn Việt Nam, Hội Văn nghệ Dân Gian Việt Nam

TÁC PHẨM ĐÃ XUẤT BẢN :

. Bác Ba Phi (tiểu thuyết)
. Bóng núi Tô Châu (tiểu thuyết)
. Xôn xao đồng nước (tiểu thuyết)
. Dệt chặng đường xuân
. Đường về Miệt Thứ (ca cổ).....








TIỂU THUYẾT


BÁC BA PHI - PHẦN I (1 & 2)

BÁC BA PHI - PHẦN I (3 & 5)

BÁC BA PHI - PHẦN I (6 & 7)

BÁC BA PHI - PHẦN II (8 & 9 & 10)

BÁC BA PHI - PHẦN II (11 & 12 & 13 & 14)

BÁC BA PHI - PHẦN II (15 & 16 & 17 & 18)

BÁC BA PHI - PHẦN III (19 & 20 & 21 & 22)

BÁC BA PHI - PHẦN III (23 & 24 & 25 & 26)

BÁC BA PHI - PHẦN III (27 & 28)

BÁC BA PHI - PHẦN IV: CHIẾN TRANH (29 & 31)

BÁC BA PHI - PHẦN IV: CHIẾN TRANH (32 & 35)

BÁC BA PHI - PHẦN IV: CHIẾN TRANH - PHẦN KẾT

















































BÁC BA PHI


LỜI NGƯỜI VIẾT

Chuyện nguyên mẫu của bác Ba Phi chỉ nói về thiên nhiên giàu đẹp của xứ sở U Minh, nơi quê hương đang sống, nào rắn rùa, tôm cá, chim chuột tuyệt đối không có chuyện nào nói đến chiến tranh cả. Cuộc kháng chiến chống Mỹ mỗi lúc một ác liệt, chuyện bác Ba Phi mỗi lúc một phát triển đa dạng, lan truyền nhanh, nhân rộng theo những “kênh” đường dây giao liên, vận tải, theo đường hành quân, nơi ăn ở của bộ độ, cơ quan cách mạng. Cứ cái mô-típ gài cốt chuyện rồi tạo một thắt nút có kịch tính phóng đại nhảy vọt, mạnh ai nấy sáng tác rồi đổ thừa đó là truyện của bác Ba Phi. Có những “môn đồ” muốn thuyết phục người nghe còn thề bán mạng là chính mình ngồi giáp mặt bác Ba nghe kể chuyện vào trường hợp nào... nào đó, số môn đồ đó không loại trừ tôi.
Tôi nhớ không lầm, mãi cho đến những năm giặc bình định ác liệt, có nghĩa là vào đầu Việt Nam hóa chiến tranh, từ chiến trường 1C, tôi là người “đưa” bác Ba Phi tham gia vào chiến tranh.
Chiến trường ác liệt đến người ta tưởng tượng rờ đâu cũng đụng cái chết, gian khổ đến thân thể lính ta vào những mùa nước bị ghẻ lác loang lở từ “lỗ chiếu môn đến đỉnh ruồi”. Và đói khát, bệnh hoạn đến vàng da, rụng trọi tóc. Con người cần có tiếng cười như tim cần có máu. Phương tiện chiến tranh hiện đại của địch ở đây thường dùng áp đảo ta ngoài máy bay “cán gáo” còn pháo bầy, tàu binh các loại, trực thăng vận và xe lội nước. Để mượn bác Ba Phi giải tỏa bớt nỗi “ớn xương sống” các loại nầy ở lính ta, tôi nghiên cứu đưa bác ra hàng thế trận diệt chúng từ từ... Đến khi chấm dứt cuộc chiến tranh chống Mỹ, chuyện bác Ba Phi vẫn còn là văn học truyền khẩu, chưa thấy xuất hiện thành văn ở sách báo nào...
Có lần tôi thầm thì với bác Nguyễn Tuân về ý định muốn đưa chuyện truyền khẩu bác Ba Phi vào văn học. Bác Tuân khuyến khích ngay:

“Cậu mổ xẻ ông Ba Phi trên mảnh đất của cậu, bằng con dao của cậu rồi xào nấu với nguyên liệu riêng của cậu, nó sẽ trở thành một món đặc sản thích hợp khẩu vị bạn đọc hơn bất kỳ ai”...

- ANH ĐỘNG -




PHẦN IV: CHIẾN TRANH

36 & 38 : KẾT .




36- ÔNG GIÀ THỢ TIỆN VÀ CHÚ BÉ LÁI DƯA.

Đám lính bộ đánh thủy của quận Nhung long kinh về tới Rạch Ráng, chúng la lối om sòm:
- Bớ người ta, kéo tôi lên với !
Quận Nhung chạy ra thấy tên lính nào đôi chân cũng bị cây đập sưng bầm. Hắn nổi nóng, chống hai tay vào háng, hét:
- Cha chả, hay cho Ba Phi ! Giỏi cho Ba Phi ! Tụi bây đâu ? Mau đi mua một tá ngải xanh với thuốc cứu về giã dập xào dấm đắp vào chân những tên ăn hại này.
Hắn quay ra, cung tay hầm hừ:
- Tao phải ăn thua mút mùa với ông cháu Ba Phi.
Hắn bước xuống bến tàu:
- Tụi bây dùng năm chiếc tàu sắt chở quân đường sông chạy vô tấn công, thử coi ông già đó có dùng cần quất đánh bại chân được không?
Hắn lại bước ra bến xe đò:
- Tiểu đoàn bịêt động trưng dụng mười chiếc xe đò chở quân tấn công đường bộ để chống bẫy quét của Ba Phi.
Tên chỉ huy tiểu đoàn biệt động báo cáo:
- Thưa quận trưởng, lộ xe vô đó xấu quá, xe đò là loại từ năm "mười bốn, mười tám" tới giờ, vừa chạy vừa "đánh trống, đánh phèng la", sợ Ba Phi hay mà đối phó mất.
Quận Nhung tức mình, huơ gậy:
- Kệ mẹ nó, cái thứ gì cũng lấy tấn công !
Tức thì dưới sông tàu sắt hụ máy, lính thủy tràn xuống, trên lộ xe đò quay ma-dị-eng xèng xèng. Lính biệt động trèo lên.
Ông cháu bác Ba Phi ở trong Lung Tràm cách Rạch Ráng xa hằng bảy cây số, nghe được tiếng tàu sắt hụ, tiếng xèng xèng, cạch cạch của đoàn xe cũ xì trên lộ. Họ bảo nhau chuẩn bị:
- Để ông nội nối những lưỡi cưa sắt nầy lại mang ra sông Đốc "mở cửa tiệm thợ tiện" chơi với bọn tàu sắt này một trận.
- Con cũng xách thùng ra tưới nước con lộ hư đứt của đoàn xe kia, mà "làm lái buôn dưa hấu" một trận với bọn biệt động ngụy.
Hai ông cháu bác Ba Phi chia đi hai ngả để chặn giặc tràn vào. Bác Ba căng những lưỡi cưa sắt nối dài ngang qua con sông Đốc. Bác căng cho lưỡi cưa nằm với độ xéo, và ngầm dưới mặt nước độ một gộc tay. Xong đâu đó, bác ngồi trên bờ vấn thuốc hút, chờ đám tàu sắt của quận Nhung chạy vào. Thằng Đậu thì xách một cặp thùng thiếc ra những khúc lộ bị đứt, khúc lộ có độ dốc, gánh nước đổ cho lên bùn. Làm như thế Đậu đổ hết đoạn này đến đoạn khác.
Năm chiếc tàu sắt chở đầy quân từ phía Rạch Ráng chạy vào ào ào, rẽ nước tiến vô phía vàm Rạch Lùm. Bọn địch định vào Rạch Lùm rồi chạy xốc vô Lung Tràm để đánh với ông cháu bác Ba Phi. Nhưng chúng đâu biết rằng bác Ba đã "mở cửa tiệm thợ tiện" trước khi chúng tới đường quẹo. Đoàn tàu tới gần, bác Ba Phi bình tĩnh mang kiếng lên mắt để nhìn bọn giặc lâm nạn cho khoái chí. Với tốc độ chạy như bay lại thêm nước xuôi đẩy tiếp, chiếc tàu đi đầu đâm vào lưỡi cưa sắt của bác Ba. Tàu chạy tuột theo độ xéo, cắm bạt mũi vào bờ bên kia, bật lên một tiếng "soảng" nghe ê cả hai hàm răng. Chiếc tàu bị lưỡi cưa của bác Ba tiện đứt ngọt phần dưới mặt nước, còn lại phần trên tựa chiếc hòm không đáy, chìm nghỉm theo dòng nước. Lại chiếc thứ hai lao tới: "soẻng". Chiếc thứ ba: "soẻng". Chiếc thứ tư cũng: "soẻng"… Liền lạc bốn chiếc tàu sắt của giặc bị "cửa hàng thợ tiện" của bác Ba Phi tiện cho rã đôi trôi đùng theo dòng nước ròng của sông Đốc. Những tên lính trên bốn chiếc tàu quăng nón, bỏ súng la ó rùm trời, lội lềnh bềnh đầy mặt sông.
Đến chiếc cuối cùng, tên tài công bớt máy lại được, chạy tới hơi chậm. Và nó cũng gặp lúc lưỡi cưa của bác Ba Phi tiện liên tiếp bốn tàu nên hơi dùn, chìm xuống sâu hơn. Chiếc tàu thứ năm lướt tới. Lưỡi cưa vướng vào chân vịt, nhưng tàu cố xé nước vọt đi, liền bị lưỡi cưa tiện bứt cái chân vịt. Chiếc tàu quay chong chóng trên mặt nước trông tựa cái phao khổng lồ. Những tên lính của bốn chiếc tàu bị chìm, hè nhau lội lại chiếc tàu mất chân vịt, đeo đen nghẹt hai bên be. Lũ trên tàu sợ bị chìm la hét inh ỏi. Bọn dưới sông sợ chết hụt, cố chết bám vào. Tàu chòng chành một hồi rồi chìm nghỉm theo các bạn của nó.
Đám lính thủy của quận Nhung lội lên bờ, mình mẩy ướt át loi ngoi, lần dò đi về Rạch Ráng. Bác Ba Phi nhìn thấy tức cười, vỗ tay bắt chước thằng Đậu hát bài: "Tiếng đàn Ta Lư" của nhạc sĩ Huy Thục:
"Ba bốn tàu chìm trên sông lểnh nghểnh… Tên lính thủy đánh bộ kia ơi ! Chúng bây ngán Ba Phi hay chưa ? Hờ, hơi !".
Bác Ba chạy về xem trận địa chống càn lũ lính đi xe đò của thằng Đậu. Hai ông cháu núp sau bụi tre nhìn ra.
Đoàn xe đò cũ mục nát chạy trên lộ xốc quá, qua những đoạn bị thằng Đậu đổ nước cho trơn, xe càng xốc. Những tên lính ngồi trên xe, cứ theo một cái xốc có mấy tên nhảy dựng lên, đầu thoi thủng mui xe, mắc kẹt ngang cần cổ, không thụt xuống được. Đoàn xe chạy vào gần tới chỗ bác Ba Phi. Tất cả lính ngồi trên mười chiếc xe đều bị mắc kẹt đầu trên mui xe ráo trọi. Thấy vậy, thằng Đậu vỗ tay cười ngặc nghẹo và kêu:
- Mấy anh tài xế ơi ! Dừng xe lại, xuống mà coi kìa !
Mười người tài xế dừng lại, xuống xe và rất đỗi kinh ngạc khi thấy đầu lính ló lên mui xe đầy nghẹt như đang chở đầy những trái dưa hấu. Đậu khoát tay bảo:
- Các anh dùm ơn chở mười chiếc xe dưa hấu này ra Rạch Ráng, bảo là ông cháu bác Ba Phi gởi bán cho quận Nhung đó nghe !

37- XE TĂNG LÀM XIẾC.

Quận Nhung đứng chống hai tay vào háng, tổng kết trước quân, binh chủng của hắn:
- Chỉ có tay Ba Phi mới tài trời vậy thôi. Nầy, lần thứ nhất ông đập máy bay đầm già bằng cần câu rê. Lần thứ hai ổng chém máy bay cán gáo bằng phản phát cỏ. Lần thứ ba ổng dùng đầu đạn pháo lép đánh phản pháo. Lần thứ tư đánh quân biệt kích bằng ong vò vè. Lần thứ năm đánh bộ binh bằng bẫy quét chân. Lần thứ sáu ổng đánh tàu sắt bằng lưỡi cưa. Lần thứ bảy ổng đánh biệt động bằng con lộ xốc. Lần này tao quyết đem xe tăng càn vô đánh với ông cháu Ba Phi một trận. Nếu thua nữa, cho B.52 rải thảm chết hết xóm Lung Tràm, tao mới vừa bụng.
Tên tham mưu ló đầu ra, nói thêm:
- Chỉ có Ba Phi mới đủ kiểu đánh giặc trên trời dưới đất như vậy. Tôi đề nghị với quận trưởng là lần đánh bằng xe tăng này, nếu thua ta nên rút chạy, bỏ chi khu Rạch Ráng đi, đừng nên đưa máy bay B.52 vô, coi chừng ông cháu Ba Phi hạ luôn loại máy bay chiến lược của thầy Mỹ, thì Ba Phi trở thành siêu nhân.
Xe tăng đã tập hợp trước cửa dinh quận đủ một chi độ gồm sáu chiếc. Quận Nhung khoác tay ra lệnh xuất quân.
Bọn lính ngồi trên xe tăng nói:
- Xe nầy mui không sợ đầu đội ló lên trên.
- Xe nầy hông dầy không sợ bẫy quét đập vào chân.
- Xe nầy chạy trên đồng không sợ lưỡi cưa sắt tiện đứt chân vịt.
Bọn chúng cười nói nghí ngố trên xe. Sáu chiếc cứ hướng Lung Tràm mà trực chỉ.
Nghe tin xe tăng của quận Nhung càn vô đánh phục thù, ông cháu bác Ba Phi vô cùng lo lắng.
- Tính sao đây hở ông nội !
- Chắc ông cháu mình rửa chân leo lên bàn thờ ngồi hưởng hương khói rồi Đậu ơi !
Chi đội xe tăng chạy vô càn rạp cây cối, chúng giương nòng khẩu pháo trước mũi bắn ầm ầm.
Ông cháu bác Ba Phi mỗi người mang một gói đồ trên vai chạy trối chết. Xe tăng rượt đuổi hai người chạy vòng vòng ngoài lung lầy. Họ chạy chui vô đám sậy. Xe càn sậy. Họ lại trồi ra. Bác Ba chạy mệt thở vinh râu. Thằng Đậu theo sau, khóc thút thít:
- Hi… hi… con đuối sức rồi, mình rửa chân leo lên bàn thờ ngồi đi ông nội ơi !
- Cái thằng ngốc ! Leo lên bàn thờ ngồi hưởng hương khói có nghĩa là chết rồi, còn cái hồn được thờ cúng, mày khoái lắm hả ?
May đâu đêm sụp tối. Những chiếc xe tăng của giặc chia nhau chạy tìm chỗ kín đậu lại để nghỉ. Ông cháu bác Ba Phi cũng lội về nhà để nghỉ ngơi. Trên đường về đường sá lầy lội, đêm hôm tăm tối, họ cứ lần mò mãi.
Đi đến một khẩu đìa, mệt quá, bác Ba dừng lại bảo:
- Tìm bậy một mô đất nào cao ráo, nằm ngủ một giấc cho đỡ mệt.
- Cái mô này êm mà sạch nữa nè, ông nội.
Thằng Đậu chạy tới một mô đất gần đó và kêu lên như vậy, bác Ba Phi đến. Hai ông cháu nằm xuống. Thằng Đậu vừa yên chỗ là ngáy khò khò. Bác Ba Phi ngủ không được, ngồi dậy vấn thuốc hút.
Trăng mọc lên phía sông Đốc buông ánh sáng vành vạnh. Bác Ba ngắm trăng. Nhưng không biết tại sao mặt trăng lại xoay vòng tròn, một chút nằm trước mặt, một chút nằm trở về phía sau lưng. Lấy làm lạ, bác gọi thằng Đậu dậy:
- Dậy ! Cái mô đất có trục quay.
Bỗng dưng phía trước mô đất ló lên một cái ống gì bự bằng đầu gối, huơ huơ, thằng Đậu hoảng hốt:
- Mình đang ngồi trên mu con rùa lớn, đầu rùa ló lên huơ huơ kìa.
Nhưng bên dưới mô đất có tiếng người gọi lên rền rền:
- Đứa nào ngồi trên mui xe tăng của tao đó ?
Ông cháu bác Ba Phi thất kinh, tốc chạy. Đó là chiếc xe tăng bị lọt xuống đìa, nó cứ loay hoay tìm đường lên.
Chạy về tới nhà, bác Ba Phi thở hào hển bảo:
- Xe tăng lọt xuống đìa lên không được, vậy mình phải cắm chông tất cả các khẩu đìa để đâm cho bọn này chết luôn.
- Chông gài người thì chẻ cau nhỏ, chuốt nhọn, còn chông gài xe tăng thì phải để nguyên cây cau, chuốt nhọn đầu gốc, cắm ngược lên như cọc của ông Ngô Quyền đời xưa gài chiến thuyền quân Nam Hán, hén ông nội !
Hai ông cháu bác Ba vác búa ra đốn vườn cau, lấy khúc gốc, chuốt nhọn, cứ để nguyên cây khiêng đem cắm xuống tất cả các khẩu đìa chung quanh vườn để gài xe tăng. Làm cho tới sáng mới xong.
Sáng ra chi đội xe tăng lại mở cuộc càn vô vườn. Ông cháu bác Ba Phi đứng núp sau bụi tre, ló đầu ra ngoắc bọn giặc:
- Ngon vô đây nói dóc chơi ! Ba Phi này chấp hết tụi bây.
Thằng Đậu phụ họa theo:
- Vô đây tao cho ăn bông súng chấm mắm kho, ngon tuyệt vời !
Chi đội xe tăng thấy ông cháu bác Ba Phi thách thức quá, tức mình hè nhau hụ máy chạy vô. Sáu chiếc bọn chúng căng hàng ngang ào ạt tiến lên. Chúng hô vang dội:
- Quyết bắt cho được Ba Phi để lấy bộ sách nói dóc mới nghe !
Bọn giạêc vừa la vừa tiến. Bỗng nhiên chúng lao xuống đìa ùm ùm. Xe tăng có cái bụng giáp sắt nên chông cau đâm không thủng. Sáu chiếc xe tăng bị những hầm chông cau nguyên cây của bác Ba Phi bêu trên đầu cọc, chiếc nào cũng xả dây xích chạy rè rè, bơi bơi trên không trung xem rất lý thú. Thằng Đậu vỗ tay cười ngất:
- A ngộ ! Cả chi đội xe tăng chúng làm trò xiếc trên đầu cọc kìa ông nội ơi !

38- NHỮNG CON DƠI LỬA RA QUÂN.

Chi đội xe tăng của quận Nhung cứ chạy khơi khơi trên đầu cọc đúng ba ngày ba đêm mới rớt xuống mà bò về trình diện. Quận Nhung nổi giận:
- Ra quân trận nào cũng thua. Hải - lục - không quân đều bại. Tao phải chơi thứ độc với ông cháu Ba Phi mới nghe.
Tên tham mưu ló đầu ra nói thêm:
- Xin thầy Mỹ B.52 bừa xuống Lung Tràm, ông cháu Ba Phi mới trồi đầu ra được.
Quận Nhung chạy lại bàn chụp điện thoại quay reng reng:
- A lô ! Xin quan thầy cho 9 phi đội máy bay B.52 tới bừa thúi đất vùng Khánh Bình này đi !
Bên đầu dây kia thầy Mỹ trả lời:
- B.52 bữa nay mắc bận chở mắm ruốc ở vùng sông Đốc. Hoãn lại ba ngày sau mới cho tới.
Ông cháu bác Ba Phi trong Lung Tràm được tin ba ngày nữa có máy bay B.52 Mỹ tới bừa vào xóm, họ lo lắng vô cùng.
- Ai biểu ông nội đánh giặc kiểu Ba Phi làm cho bà con mình phải chịu họa lây.
- Không làm kiểu Ba Phi thì làm sao thế gian này có tiếng cười ? Đã lỡ đời ông sinh ra là Ba Phi rồi, bây giờ phải cố nghĩ cách Ba Phi mà đối phó.
Suy nghĩ một lúc bác Ba bảo thằng Đậu:
- Mầy xách cái rộng đi ra đầu xông nhà với ông nội !
Thằng Đậu mang cái rộng cá thật đầy, có nắp đậy. Bác Ba Phi tay cầm cây vợt câu tôm, họ ra đầu xông nhà, chỗ có mé lá lợp xiên xuống xồm xoàm. Bác Ba nhè nhẹ đưa cán vợt dở thử tua lá lên xem. Những chùm con dơi bắt muỗi đeo đầy chỗ tua lá.
Thằng Đậu cầm khúc cây thọc cho dơi bay ra. Bác Ba cầm cái vợt câu tôm hứng bắt. Hai ông cháu bắt sạch đến mấy trăm con dơi bắt muỗi núp trong mái nhà.
- Lấy giẻ, chai dầu, ống quẹt, ra, Đậu !
- Nướng dơi ăn hả nội ?
- Dơi này ăn như cọp ăn bù mắt, nhằm nhò gì. Ông nội mở xưởng chế tạo vũ khí "tên lửa tầm ngắn".
- Chi vậy ông nội ?
- Tiên hạ thủ vi cương ! Phải ra tay trước, đốt mẹ cái chi khu Rạch Ráng cho cha con thằng quận Nhung bỏ chạy, kẻo ba ngày nữa nó đem B.52 tới.
Thằng Đậu lấy dụng cụ ra. Hai ông cháu xé giẻ vo tròn thành một cục, dùng một khúc dây chì nhỏ cột cục giẻ rồi cột vào đuôi con dơi. Họ làm thử hai con để thí nghiệm. Làm xong, họ nhúng dầu cho ướt cục giẻ rồi quẹt lửa đốt. Bác Ba cầm hai con dơi bắt muỗi tung lên cao:
- Cho tên lửa vượt đại châu nè !
Thằng Đậu vỗ tay cười ngặt nghẹo:
- Giống bà Cố xẹt quá trời !
Một con dơi bay xẹt qua đầu hai người, kéo cái đuôi lửa bay thẳng lên ngọn cây dừa gần đó, đáp vào chỗ có buồng dừa. Lửa bắt cháy ngọn dừa phừng phừng. Ông cháu bác Ba vỗ tay cười khoái chí. Con dơi thứ hai mang lửa đảo mấy vòng rồi quay về chỗ cũ, đáp vào mái nhà. Mái nhà đang khô như rơm, bốc cháy. Ngọn lửa bốc lên rần rần. Ông cháu bác Ba hoảng hồn chụp lấy sào đập vào nhà để chữa lửa. Lửa càng bốc, họ càng đập dữ. Đập đến ngã đổ đồ đạc trong nhà và đến chừng lửa tắt, cái nhà bị sập hết phân nửa. Bác Ba Phi cười khà khà:
- Cuộc thí nghiệm này thành công rồi !
- Phải thất bại thì nhà mình cháy bằng mặt đất, hả ông nội ?
Hôm sau, ông cháu bác Ba Phi mang rộng rơi đã buộc đuôi sẵn, ra gần chi khu Rạch Ráng. Họ quyết lòng cho những con dơi lửa ra quân.
Trong chi khu, tên quận Nhung đứng chống hai tay vào háng động viên:
- Lính tráng gì mà sợ Ba Phi ? Để tới ngày hẹn với thầy Mỹ cho B.52 vô bừa, ông cháu nó chết là chi khu chúng ta vững như bàn thạch.
- Tụi tui sợ chi khu này có ngày cháy bằng mặt đất, vì tay ông Ba Phi quá quận trưởng ơi !
Ngoài kia ông cháu bác Ba Phi bắt những con dơi ra, quẹt lửa đốt vào cục giẻ nhúng dầu, thả cho bay lên trời.
- Chi khu nầy bỏ chạy, bà con tao mới khỏi bị B.52 bừa.
- Mình đánh cho quận Nhung một trận hỏa công, mẹ con nó chạy vắt giò lên cổ chơi, hén ông nội !
Những con dơi mang lửa bay đỏ trời trên vùng chi khu Rạch Ráng. Quận Nhung hoảng hốt kêu lên:
- Tại sao máy bay B.52 lại rãi thảm xuống ngay chi khu vậy kìa ?
Tên tham mưu chạy vòng vòng la lối:
- Tại quận trưởng tàn ác quá trời, cả trăm bà Chúa Xứ xúm lại bắn chúng ta đó.
- Những con dơi bay mỏi cánh, đáp vào các dẫy trại nhà lá của lính. Lửa bốc cháy lên rực trời. Từ nhà lá lan qua dãy nhà tường. Cả chi khu Rạch Ráng trở thành một dãy núi lửa. Mẹ con quận Nhung bỏ chạy loạn xà ngầu, mạnh ai nấy nhảy ùm xuống sông Đốc, lội qua bên kia, chạy tắt đường đồng về thị xã Cà Mau.
Ông cháu bác Ba Phi nhìn theo vỗ tay cười ngất:
- Cho tụi bây biết thế nào là hỏa lực của ông cháu Ba Phi !


1977 - 1984



ANH ĐỘNG

© CẤM ĐĂNG TẢI LẠI NẾU KHÔNG CÓ SỰ ĐỒNG Ý CỦA TÁC GIẢ


TRANG CHÍNH TRANG THƠ ĐOẢN THIÊN BIÊN DỊCH HỘI HỌA ÂM NHẠC