Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới







GÓC LÀNG




7.


Mình nhường suất phân phối xe nội cho cô Lụa bên hội phụ nữ xã. Xe Thống Nhất nhẹ hơn, cao giá hơn xe Phượng Hoàng bốn chục đồng. Loại Thống Nhất nam, khung ngang nên phụ nữ mỗi lần lên xe rất khó. Bù lại, vành bánh cỡ sáu trăm năm mươi, dễ mua săm lốp, không như xe Phượng Hoàng cỡ vành sáu trăm sáu mươi, phụ tùng khó kiếm. Nhiều người dùng cưa sắt, cắt vành xe sáu trăm sáu mươi xuống năm trăm năm mươi, tiện săm lốp nhưng không an toàn. Chuyện nhường nhịn này, không nên kể lể với ai, ảnh hưởng uy tín cá nhân. Có một điều bí mật, mình không muốn ai biết, trừ ba người, cô Lụa, bầm thằng cu và mình.

Chuẩn bị Chiến dịch Thu-Đông, do nhiệm vụ quân báo, lâu lâu mình lại có dịp qua nhà. Cô Xinh con gái ông Xung, hình như có ma dẫn đường, cứ mình về được một lúc là lại thấy sang nhà chơi. Buổi tiễn mình ra đến gốc đa làng, cô Xinh dúi vào túi áo lính một gói nhỏ.

- Tặng anh vệ quốc quân đấy! Nhưng cấm mở bây giờ.

Vó ngựa khấp khểnh, lưng mỏi nhừ, sang đến đèo Cón, địa phận thuộc châu Thanh Sơn giáp Hòa Bình, mình dừng ngựa nghỉ. Quán nước quen thuộc giờ có người khác bán. Một cô gái áo chàm ngồi trên chiếc ghế tre dài, khuôn mặt trái xoan ửng hồng trong chiếc khăn đen.

- Mời bộ đội vào uống nước!

Chưa dứt lời mời, bàn tay thon trắng đã cầm cái gáo bằng ống nứa cắt ngắn, múc nước ra bát. Chiếc nồi đồng ba mươi ủ trong sọt lá chuối khô, vung mở ra nghi ngút khói, thoảng mùi thơm cây nhân trần. Nhấp ngụm nước nóng, ngọt, mình đưa mắt nhìn quanh. Vẫn những vật dụng quen thuộc. Chiếc chõng tre lên nước vàng óng, trên bày mấy nải chuối, lọ kẹo vừng, chục bánh gai. Vách nứa xung quanh vẫn ám khói, chiếc nón lá già treo trên móc tre. Chỉ bà mế già là không thấy đâu.

- Bà mế không bán hàng nữa hả nọong?

- Mế em mất rồi!

- Chết! Cuối năm ngoái tôi còn thấy bà ngồi đây mà! Sao vậy nọong?

- Mế ở nhà thôi, máy bay Tây nó ném bom xuống.

Đúng vậy, mùa hè vừa rồi, một chiếc máy bay khu trục trút xuống mấy quả bom bên này đèo Cón. Lúc ấy mình còn bên Thái Nguyên. Nỗi buồn vu vơ trĩu nặng. Không phải người thân mà mình xót xa. Lúc lấy tiền ra trả, mình mới sực nhớ tới gói vải trong túi, bèn mở ra. Bên trong là chiếc khăn mùi soa trắng và tờ bạc “trâu xanh” một trăm đồng. Mình hốt hoảng vì món tiền to bất ngờ, chưa bao giờ được cầm đến. Cô con gái nhà giàu làm gì đây? Hồi mình bỏ nhà đi theo Việt Minh, còn mấy hào bạc tiền công ông chủ chưa trả, hay là cô Xinh trả giúp cha? Không phải! Mình làm thuê cho ông chủ mười năm, mới được một tờ “trâu xanh” này. Thế này thì khó hiểu quá. Còn chiếc khăn mùi soa, phải có tình ý với nhau người ta mới tặng chứ? Cô gái Mường thấy mình tần ngần cầm tờ bạc lớn, liền kêu:

- A lúi! Bộ đội trả tiền “trâu xanh”, em biết làm sao?

Mình vội lấy mấy xu bạc lẻ ra.

Nửa tháng sau quay lại, mình không nghỉ lại trạm mà đi cố đến quán nước quen. Trời đã nhá nhem, cô gái đang dọn dẹp quán. Thấy tiếng vó ngựa dừng trước cửa, cô nhìn ra, mừng rỡ.

- Ô! Bộ đội về muộn thế!

- Còn gì ăn được không nọong?

- Bánh hết rồi! Chỉ còn chuối và kẹo thôi. Em sắp về nhà.

Thấy khách tần ngần yên ngựa, cô gái giục.

- Bộ đội vào nghỉ chân. Trời tối rồi, đi không được nữa đâu.

- Thế này thì phiền nọong quá.

- Bộ đội không sợ ma rừng, thì nghỉ lại đây. Nằm tạm chõng tre này cũng được. Có kẹo, còn nước nhân trần đây.

Mình cũng chẳng còn cách nào khác. Ma thì không sợ, vì làm gì có ma. Địch cũng không sợ, vì đây là vùng tự do. Chỉ sợ đêm nay cô đơn bên đèo vắng. Cô gái chụm thêm mấy khúc củi vào bếp, ánh lửa bùng lên hắt hai bóng người chập chờn vách nứa, một to, một nhỏ.

- Nọong tên gì?

- Người Mường gọi là ún, không gọi là noọng như người Thái.

Tôi ngượng. Có vậy mà cũng không tìm hiểu cho rõ.

- Tôi cứ tưởng gọi thế cho thân mật.

- Thế thì gọi là ún Mong. Vâng! Là mong đợi ấy.

Mình đói, ăn được ba quả chuối và mấy cái kẹo vừng, bụng sôi èo èo. Trước đây, bà mế có mời ăn cơm nếp, loại cơm nếp nhuộm lá cây nửa vàng, nửa tím. Sao bây giờ ún Mong không bán nhỉ? Cô gái cười khúc khích.

- Là cơm trai gái đấy. Chỉ khi nào có đám cưới, người ta mới nấu cơm “trai gái” thôi. Bộ đội ngủ đi. Trông quán hộ em nhé.

Mình không ngủ được. Gió rừng xào xạc gõ ngoài vách nứa. Con ngựa sốt ruột gõ móng lịch kịch. Tiếng vượn hú âm âm rừng xa. Ngày mai chắc chỉ ghé qua nhà được một tẹo. Phải đi gấp về đại đoàn để báo cáo tình hình địch. Quân Pháp rục rịch muốn hành quân sang Hòa Bình. Không chờ cô Xinh sang chơi, mình sẽ chủ động tìm cô ấy, trả lại tiền. Một trăm đồng tậu được bốn con trâu cái hoa, lớn quá. Hay cô ấy phải lòng mình? Không phải! Dù bây giờ là một anh bộ đội phong trần, trước kia mình vẫn là người ở. Chuyện ngày trước, bà hai nhà ông Xung có cảm tình với thằng ở, chẳng phải cô Xinh là người to tiếng mạt sát nhất? Mình hồi ấy vừa tức, vừa ngượng. Biết thân phận con ở, mình bao giờ dám hỗn, dù biết bà hai có ý thương. Cô Xinh cũng hay lo cho mình, vì vậy cô ghen tị với mẹ kế. Gần bốn năm rồi, chẳng biết bà hai giờ ra sao, có còn ở với ông chủ nữa không. Ngày mai, nhất định mình sẽ đến tận nhà, vừa thăm lại chủ cũ, vừa mong gặp lại những người từng che chở mình.

Có tiếng động bên ngoài tấm liếp che cửa quán. Không phải tiếng thú rừng, hình như tiếng bước chân người bước vội. Mình sờ đến khẩu pạc-hoọc, nhẹ tay kéo cơ bẩm, lắng tai nghe kỹ. Tiếng bước chân đã dừng trước quán, hình như có cả ánh đuốc lập lòe.

- Bộ đội ơi!

Nghe rõ tiếng con gái. Chắc là ún Mong. Sao cô ấy ra quán sớm thế. Tay vẫn giữ khẩu súng, mình chống tấm liếp cửa lên. Cô gái Mường đứng đó, váy xắn tới gối, đôi bắp chân to và trắng. Một tay cầm cây đuốc nứa, tay kia xách một giỏ mây.

- Chưa sáng mà, ún sợ mất hàng à?

- Không đâu! Mới gà gáy một. Em mang cái này cho bộ đội ăn rồi đi ngủ.

Bếp lửa lại được nhóm lên, tí tách cháy. Hơi ấm trùm lên tấm áo lạnh sương khuya. Nắp giỏ mây giở ra, bên trong là gói lá dong xanh đầy cơm nếp nửa vàng, nửa tím, món cơm “trai gái” như cô gái nói. Mùi nếp thơm ngậy, nóng hổi. Loại nếp nương hạt dài và to.

- Trong bản hôm nay có đám cưới à? - Tôi hỏi.

- Không! Đang thời chiến, ít cưới lắm. Em thương bộ đội, về nhà nấu cơm “trai gái” cho ăn thôi.

Không có thịt cá, thậm chí không có muối, nhưng món cơm nếp bản thật là ngon. Hồi còn bé, mỗi khi nhà có giỗ, cũng chỉ mỗi đứa một nắm xôi nhỏ đã khô cong, làm gì được ăn thỏa thuê thế này. Sau chiến dịch năm ngoái, nhân dân mổ trâu, mổ lợn khao bộ đội, cũng chỉ ăn vội vàng, tạm no bụng, chứ làm gì được như đêm nay.

Ún Mong ngồi xổm bên cạnh, nhìn mình ăn, đôi mắt nai trong veo, mở to không chút ngại ngần. Mong kể nhà chỉ có hai mế con, bố đi dân công sao chẳng thấy về. Mong thù thằng Tây lắm, bộ đội lúc nào đánh Tây, hãy giết một đứa cho mế được không? Mình hăng hái gật đầu. Chiến dịch tới, nếu có dịp giết giặc, mình sẽ hét lên:

- Tao trả thù cho mế ún Mong đây!

Ún Mong đã ngồi lên hai thân bương bắc làm ghế, cánh tay tròn lẳn vịn vào đầu gối khách. Cũng cánh tay ấy giơ lên phủi một cọng lá khô hay cái gì đó trên vai mình.

- Bộ đội có vợ chưa?

- Chưa ún ạ! Thân nam nhi, sống chết sa trường, vợ con làm gì cho người ta khổ.

Mình nhớ đến bài hát mới học, có câu. “Là thân nam nhi, quyết chí sa trường, sống chết coi thường...”, nên làm con vẹt nói theo.

- Thế có ai để chờ đợi chưa?

Mình chợt nhớ đến cô Xinh. Không phải, mình với cô ấy chưa có gì.

- Chưa! Ai mà dám chờ bộ đội hở ún.

- Thấy bộ đội có chiếc khăn tay đẹp lắm mà.

- À... cái khăn cô em gái tôi nhờ mua đấy mà. Tôi có hai em gái cơ.

- Thế có người muốn chờ bộ đội, được không?

Đôi má hồng vương mấy sợi tóc, kề sát thái dương mình. Ánh mắt tròn, chiếu ánh lửa bếp lung linh, rừng rực. Mình ôm nhẹ người sơn nữ, hơi ấm truyền qua vải chàm, qua lượt vải ka ki dày, đầy tràn lồng ngực trai trẻ. Đêm ấy, mình giã từ đời con trai trong trắng tại nơi rừng vắng, róc rách tiếng suối reo. Cuộc chia tay bịn rịn, như một chinh phu từ giã vợ hiền. Mình hứa sẽ có dịp sẽ đưa Mong về thăm quê, thăm bầm. Nhưng lời hứa không thực hiện được.

Cuối năm, đơn vị quần nhau với tàu Pháp hai trận liền trên sông Lô. Mình từ Lập Thạch ngược lên Yên Sơn, qua phủ Đoan, rồi lại lộn về Thái Nguyên. Làm lính quân báo thì vất vả thế, cứ chạy như chong chóng, không như đơn vị pháo hay bộ binh, đánh nhau ùng oàng một trận rồi thôi. Một tháng quần hai trận, sướng thật. Trận thứ hai, đơn vị gài mìn phục kích đám bộ binh địch ở Khoan Bộ, vậy mà anh Hòa chết, cùng ba người bị thương. Cái chết của anh Hòa vô lý, tức tưởi, khi mà quân địch đã rút về Bạch Hạc. Chuyện là lúc có đám lính lê dương đi qua, quả mìn mà anh Hòa gài không thèm nổ, làm cả tiểu đội tiếc đứt ruột. Sau trận đánh, anh Hòa tới kiểm tra, thấy cục sắt nằm ì thì tức quá miệng chửi rồi đá một phát:

- Đồ ăn hại!

Tiếng nổ vang lên, cả đơn vị nháo nhào xách súng chạy ra. Anh Hòa bị xé tung làm hai mảnh, bay ngược rơi xuống bãi ngô bên trong, ba chiến sĩ đừng gần đó bị thương. Vì là người làng Nà Rậm, đơn vị đem anh về quê mai táng. Ủy ban kháng chiến xã tổ chức lễ truy điệu. Cô Mận em gái ngất lên, ngất xuống. Bố mẹ cô qua đời đã lâu, nhà còn có hai anh em, bây giờ anh Hòa đi tiếp, cô sống với ai? Hai năm sau, có anh thương binh được Hội mẹ chiến sĩ nhận về, rồi trở thành chồng cô. Đó là anh Thọ người Cao Bằng.

Đám tang anh Hòa xong, mình xin phép ghé nhà một ngày, một đêm. Nhìn vẻ mặt bầm, thấy đầy lo âu.

- Hòn tên, mũi đạn vô tình, con phải cẩn thận.

Buổi chiều, mình sang thăm ông chủ Xung. Thời gian chưa xa, mà cảnh vật thay đổi nhiều. Có lẽ do chiến tranh, cũng lại do thế cuộc thay đổi. Nhà ông Xung không còn được như xưa, cứ nhìn lối vào cổng hai bên rậm rạp, hàng rào nứa ken quanh nhà tan hoang thì rõ. Ông Xung ngạc nhiên khi thấy có bộ đội tìm đến. Ông vẫn ngồi trên chiếc phản gỗ giữa nhà, đằng trước là chiếc điếu ống bằng gỗ đen khảm bạc, se điếu cong vút.

- Chào ông ạ! Ông vẫn khỏe?

- Ai đới? Ối giời ơi! Thằng Hoành à, anh Hoành. Anh mới về!

Ông Xung mời anh ngồi xuống phản. Ngồi thì ngồi, bây giờ còn chủ tớ gì nữa đâu. Mình đã là người của cách mạng. Tuy vậy, sự tiếp xúc vẫn gượng gạo.

- Cháu nhân tiện việc đưa anh Hòa về chôn, xin nghỉ ở nhà được một ngày, tranh thủ sang thăm ông bà và các cô? Hai bà vẫn khỏe chứ ạ?

- Quý hóa quá! Đúng là đi ngày đàng, học sàng khôn. Bà cả giờ bệnh trĩ, chẳng làm được gì. Việc nhà vẫn chất lên vai bà hai. Thời dân chủ, cũng không dám thuê mướn ai nữa anh ạ.

Mình rất muốn nhìn thấy mặt bà hai, dù chỉ một thoáng thôi. Những năm ở đợ nhà ông Xung, người được mình mang ơn nhiều nhất là bà. Tim mình bỗng đập rộn. Hình như bà hai thấp thoáng ngoài khu chuồng lợn, cái váy cũ xắn quai cồng và màu áo nâu bạc. Đón chén trà mạn từ tay ông chủ, thấy bàn tay ông gầy guộc, những sợi gân nổi lên dưới làn da nhăn mỏng.

- Cháu xin ông!

Bóng áo nâu bạc đã vào tới sân.

- Con lợn nái đang cào ổ rồi thầy ạ!

- Ừ! Thầy tính nó cũng đến kỳ rồi. Chị ném thêm ôm lá chuối khô.

- Vưng! A... Á, ai như anh Hoành?

Thì ra cô Xinh. Mình xin phép ra thăm lại khu chuồng lợn. Cô Xinh nhanh chân dẫn đường. Nhà bếp đắp tường đất như lô cốt. Chuồng gà, chuồng lợn, bao bằng đá ong như cũ. Mình đưa cho cô Xinh tờ bạc “trâu xanh”.

- Cám ơn cô tặng cho chiếc khăn. Còn số tiền này to quá, tôi xin gửi lại.

Cô Xinh hốt hoảng liếc vào trong nhà, đẩy tay mình lại.

- Anh cất đi. Có trả thì... tối nay tôi nhận lại. Thầy tôi nhìn thấy bây giờ.

Mình vội vàng nhét tờ bạc vào túi quần.

- Tối nay... tôi chờ cô ngoài gốc đa tám cội.

***

Thằng Danh bắt được con cá quả và mớ cua đồng. Nó làm cá, để nguyên con, cắt từng khía ngang thân cá, trát muối ớt và lá ổi non lên rồi đem nướng. Nồi canh cua đồng nấu mướp hương, thơm nhức mũi.

- Anh em mình nhắm tí rượu nhá.

Nó lôi ra cút rượu trắng.

- Có món này à?

- Năm xu một chai. Bà Bích vẫn nấu rượu lậu đấy. Chính phủ cấm thì cấm, nhưng lúc người ta lên cơn nghiện thì làm thế nào. Bầm cũng thèm rượu, mỗi hôm nhắp một tí.

Rượu ngon. Nhất anh rượu quốc lủi, uống vừa thơm, vừa chắc. Rượu ty của Pháp, uống chua cả mồm. Bầm cứ gắp cá nướng, bỏ mãi vào bát mình.

- Anh sang nhà ông Xung, thấy thế nào?

- Ông bà ấy yếu hơn trước.

- Có thấy nhắc đến mấy hào tiền công hồi trước không?

- Không! Nhưng họ đưa con hẳn tờ “trâu xanh”.

Bầm bị sặc canh mướp, ho rũ rượi. Hạt mướp, nước mũi bắn tung tóe, nước mắt chảy giàn giụa. Thằng Danh vỗ bồm bộp vào lưng bầm, mồm kêu: “Xuống! Xuống!”. Bầm chùi nước mắt, cặp mắt đỏ hoe ngước lên:

- Thế... thế đâu rồi?

- Cái gì ạ?

- Tờ “trâu xanh”. Ngày trước bố đi đánh bạc về, một lần bầm nhìn thấy tờ “đỉnh”, còn “trâu xanh” thì chưa.

Mình định giấu, xong nghĩ thương bầm, bèn rút tiền ra đưa cho bà xem. Tay bầm run lẩy bẩy cầm tờ bạc có hình con trâu xanh. Thằng Danh trố mắt ra nhìn. Đúng là họ chưa bao giờ nhìn thấy tờ bạc một trăm đồng Cụ Hồ. Ngày trước, tờ một trăm đồng tiền Đông Dương có hình cái đỉnh, ai có phải tới đăng ký với nhà băng, mà bố mình có một tờ, đã là oai lắm rồi. Nhưng có lẽ vì sự oai ấy mà ông mất sớm.

- Tối con trả cho nhà ông Xung, nhận của người ta, mang nợ thêm.

Bầm cũng gật đầu, lắp bắp:

- Ờ... ờ! Trả đi con... Nhìn thấy tờ giấy bạc to, cứ như nhìn thấy ma.

Mình ra chỗ hẹn, đã thấy cô Xinh sốt ruột đứng chờ. Cô nhất định không nhận lại tờ bạc. Mình cố tình nhét vào tay cô ấy. Cánh tay cứ co mãi lên ngang ngực, tay mình ấn theo, đụng phải một bên. Bỗng cô Xinh ôm lấy cổ mình:

- Tôi bảo này. Muốn tôi nhận lại tiền, phải nghe tôi cơ.

- Ừ! Cô bảo làm gì tôi cũng làm, chứ tiền tôi không dám nhận.

Cô Xinh buông ra, ngỡ ngàng.

- Thật nhá!

Cô kéo ngược váy lên, ôm lấy hông mình ghì chặt. Bàn tay loạng quạng định đẩy ra thì nghe tiếng hổn hển:

- Tôi cho anh đấy! Dám không?

Trong người có tí rượu, nóng phừng phừng. Mình liên tưởng tới màn đêm đồng lõa trên núi rừng Hòa Bình, tới hơi thở hổn hển của Mong, tiếng kẽo kẹt chiếc bàn tre ngắn. Một liều, ba bảy cũng liều...

- Chị Xinh ơi! Chị Xinh!

Tiếng con gái gọi ngay bên cạnh. Mình vừa rời cô Xinh thì có ánh đuốc từ gốc đa sáng lên, tiến lại gần. Mình đã tránh xa cô Xinh, nhưng cô nàng vẫn dựa lưng vào gốc cây, mắt nhắm tít, hai tay vẫn ôm váy, bên dưới lõa lồ trắng. Tiếng con gái rú lên:

- Giời đất ơi! Chuyện gì thế này. Cả anh Hoành nữa. Anh chị hủ hóa à?

Đó là cô Lụa, hàng xóm nhà cô Xinh, mười bảy tuổi.

Mùa xuân năm sau, mình xin nghỉ phép ba ngày, về cưới vợ. Chuyện này mình không dám báo cáo đơn vị, vì vợ là con ông chủ. Lúc đầu mình bực tức, cho là bị oan. Mà nghĩ đi nghĩ lại, oan ức nỗi gì? Nếu con bé Lụa không bắt gặp, thì mọi việc đã xong rồi. Hai người ra sức thanh minh, xin cô Lụa đừng nói ra.

- Anh chị thương nhau đã lâu, nên trót dại. Em mà hở ra, thầy chị gọt gáy bôi vôi, thả sông. Anh Hoành thì bị kỷ luật, kiểm điểm...

Cô Xinh ngọt nhạt với con bé. Cô Lụa vẫn còn xấu hổ vì cảnh tượng lúc nãy, nó run run:

- Chị đang làm đơn xin vào hội phụ nữ cứu quốc, hở ra là... chết. Anh chị phải hứa là cưới nhau nhá.

Mình gật đầu, thở phào. Sau đám cưới, nghĩ lại chuyện bị bắt quả tang ngoài gốc đa, mình hơi nghi ngờ việc cô Lụa xuất hiện. Liệu hai chị em có âm mưu trước không? Mỗi lần lên giường ngủ, mình hỏi vợ, thì cô ấy cười, gạt đi.

- Vớ vẩn! Xấu hổ muốn chui xuống đất, chứ lại còn âm với mưu. Đây, đây. Trả nợ cái lần dở dang hôm ấy đi.

Bà vợ lại kéo váy lên.


8.


Sau khi làm rể nhà ông Xung, mình chưa có dịp gặp bà hai. Nghe nói bà đưa cậu út về chăm ông ngoại bị ốm nặng. Bây giờ bà hai đã là mẹ vợ của mình. Nhưng trong kỉ niệm thời trước, đối với mình bà là ân nhân.

Trên đỉnh Nà Rậm, màu núi đen sẫm dần ửng hồng, rồi sáng rực như bếp lửa mới nhóm. Bình minh đang lên. Khu trại dưới chân núi bềnh bệch mái cọ xám xin, hàng rào nứa tép ken xung quanh trại lấp lánh sương sớm ngủ quên. Đoạn đường đất từ trên núi xuống khu trại như con trăn đỏ khổng lồ, ngoằn ngoèo uốn khúc rồi chui tọt vào giữa khe núi bên kia. Nhà ông Xung le lói ánh lửa. Tiếng gà rộn rạo, tiếng lợn sùng sục đòi ăn.

Gian nhà kho tối mò, tường đất dày có đục hai lỗ bằng miệng loa, thao láo con mắt thong manh, lờ mờ luồng sáng chết yểu. Sao không làm cái cửa sổ cho thoáng. Bà hai thầm trách chồng. Cởi chiếc áo ngoài, ném lên đống bồ cót lổng chổng, bà đứng dạng chân chèo, cố sức vần sải nhựa sơn vào một góc. Mỗi sải nhựa cao gấp đôi cái thúng quýt, nặng chịch. “Giá mà có thằng Hoành”, bà lẩm bẩm. Mồ hôi lăn vội trên gò má, chảy chậm qua khe ngực thây lẩy, ngứa ran. Bà hai bực mình vì thằng người ở bỏ đi đâu đã tuần lễ, còn ông chồng mượn cớ đi tìm mua trâu mấy ngày nay chưa thèm về. Lại tổ tôm, xóc đĩa ở nhà Lý Khiêm, không thì ăn vạ ở nhà ông chủ đồn điền Trương. Của nả chưa giàu bằng ai mà cứ nhăm nhăm cờ bạc, núi cũng lở. Nhà này giờ ít người làm, lắm kẻ ăn, muôn sự đổ lên đầu bà. Bà về làm lẽ ông Xung năm mới mười bảy tuổi, giờ hai mươi ba. Năm năm, bà đầu tắt mặt tối vì công việc nhà nhiều, hơn đứa ở là được ăn no, mặc lành, được sai bảo chúng. Ông Xung thèm con trai. Bà cả sinh một lèo hai con vịt giời, rồi tịt, không đẻ đái gì nữa. Cưới bà hai về, năm năm nay cũng không thấy gì, mặc dù bà lúc nào cũng căng tràn sức lực. Cứ bảo lấy chồng già dễ ngủ. Bà thì khác. Ông Xung mới ngoại tứ tuần, nhưng nghiện thuốc phiện. Có đêm ông thèm quá, vần vò chán chê, làm bà phải rên lên, mà chẳng làm được trò trống gì, cứ mềm oặt như rải khoai héo. Nửa đêm còn lại, bà vật vã như người chết cháy. Có hôm chịu không nổi, bà vục dậy, thắp đèn xay lúa ào ào tới sáng.

Năm ấy, nếu mẹ cô Lục không bị rắn rừng cắn chết, thì còn lâu cô mới chịu về làm lẽ nhà ông Xung. Mười đồng bạc trắng bố cô vay, làm ma cho vợ xong, còn cứu được cả nhà mười con người khỏi chết đói. Không trả được nợ, cô gái lớn đẹp người, đẹp nết phải ngậm nước mắt thế thân. Gọi là ông chủ, nhưng so với nhà Lý Khiêm thì ông Xung chỉ bằng một góc, còn so với gia sản ông chủ đồn điền thì không dám. Nhà ông Xung có bốn mẫu ruộng, vạn bảy gốc sơn, mười sáu con bò, bốn con trâu cày. Tất cả trông một tay bà hai lo liệu. Mấy năm nay có thêm người làng đến ở, nên cũng đỡ đần bà nhiều việc. Cả tuần, nắng liên tục, sơn chảy nhựa đều, phải gọi thêm ba tay dao cắt mới kịp. Những sải nhựa cứ đầy dần lên, mà không thấy người quay lại. Hay nó giận bà cả? Hôm đầu tháng ba, nó gãi đầu, gãi tai xin bà cả ứng hai hào, về cho bầm nó mua gạo nếp làm bánh trôi, mà không được. Sau bà hai dúi cho nó một hào, số tiền bà có được trong người. Khi mình mười tám tuổi, khỏe mạnh, sáng sủa lại siêng năng nên được bà hai quý mến. Làm khỏe, ăn khỏe, hàng ngày không có bà dấm dúi cho bát cơm nguội, khúc sắn luộc, có mà đói hoa mắt.

Người ta bảo, cậu Hoành quê gốc phủ Lâm, nhà không giàu nhưng đủ ăn, bởi ông bố theo nghề đã vào hạng “cờ bạc gạo”, cỡ ông Xung là hạng tép riu. Mình kể rằng, một đêm ông bố kết tiếng bạc, đặt hết nhà cửa ruộng nương vào cửa lẻ, vậy mà “thần đổ bác” phụ ông, reo liền mười bốn tiếng chẵn. Thế nên bố mình mới bỏ xứ ra đi, dắt vợ con lên vùng Nà Rậm mở trại mới. Vùng Nà Rậm lúc đó chỉ có bố mình và ông Xung làm trại. Nhà bốn anh em, lại tay trắng mới tới, gắng lắm mới khỏi chết đói. Biết tài cờ bạc của bố mình, ông Xung đi xóc đĩa ở đâu cũng rủ đi cùng. Là bạn cờ bạc, sau lại cùng nhau đi buôn trâu, bố mình gửi gắm con trai lớn cho ông Xung. Tiếng là đi ở, cơm ngày hai bữa ra, tiền công mỗi tháng một hào rưỡi. Vợ cả ông Xung hơn chồng năm tuổi, người gầy sắt, suốt ngày khư khư chìa khóa hòm vì sợ con cái, người làm ăn cắp tiền, gạo, nhất là phải đề phòng bà hai trộm của khuân về nhà cho bố và các em.

Công việc trong nhà đều do bà hai và mình gánh vác. Bà hai lớn hơn mình năm tuổi, tuy là phận chủ tớ mà dễ hòa đồng. Thỉnh thoảng ông Xung cho mình đi theo, vào đợt buồn trâu đàn. “Thằng này nhanh nhẹn, khỏe mạnh, có nó cũng yên tâm”. Ông giao cho mình cây gậy tre đực, dặn:

- Thấy thằng nào mắt diều, mắt quạ cứ đánh què, tội vạ đâu tao chịu.

Thế mà mình nỡ bỏ đi không về, làm nhà cửa thiếu vắng hụt hẫng. Hay cậu ấy biết được những ý nghĩ tội lỗi của bà hai mà bỏ đi? Những điều mà bà cố giấu đi, không để ai biết. Có mấy lần đi làm cỏ sơn, chỉ có hai người. Lúc ngồi nghỉ, mắt bà hai như đốt lửa giữa hai bắp đùi rắn chắc của mình. Nhiều khi, bà muốn liều lĩnh nhào vào lòng thằng ở, rồi muốn ra sao thì ra. May mà mới nghĩ trong đầu.

Ngoài sân, tiếng con chó mực hực lên, rồi rít ư ử. Bà hai mừng rỡ chạy ra. Chó nhà chỉ mừng kiểu ấy mỗi khi thằng ở về, thế mới lạ đời. Bà hai đang ngồi bệt trước hè bếp, áo phanh ngực, nón mê rách quạt lia lịa.

- Đi đâu mất mặt mấy ngày liền? Việc nhà ngập cổ người ta có biết không?

Bà hai to tiếng với mình, làm nó ngạc nhiên ngớ người, không hiểu. Thấy bà hai như sắp khóc, mình ngoạc miệng cười.

- Cháu ăn tết mùng ba tháng ba xong, gặp ông đi mua trâu, ông bảo theo luôn.

- Dì vào nhà mặc áo cho tôi nhờ. Trước mặt kẻ ăn, người làm mà tô hô thế ư?

Tiếng bà cả nhẹ tựa gió thoảng, mà cái mặt đeo đá. Bà hai giật mình nhìn xuống, thấy mình vẫn phong phanh tấm yếm đỏ, hai vai dính đầy mạng nhện. Mình chẳng thèm nhìn mặt bà cả, nói sõng:

- Con về lấy thêm bộ quần áo cho ông, chiều ông mượn ngựa của cụ ký về nhà băng có việc.

Bà cả vặn vẹo:

- Việc gì mà tao không biết, mày lại biết?

- Bà đi đâu mà biết! Ông mới sang tay đàn trâu gần hai chục con, được hơn trăm đồng. Có tờ bạc “đỉnh” nên phải về nhà băng khai báo.

Mình ngồi tranh thủ đun nồi cám lợn cho bà hai, nó bảo:

- Cháu nghe người ta đồn dưới xuôi đói lắm. Đầy người chết đói. Trên này, chẳng qua có đồn điền của cụ ký Trương, lính Nhật nó chưa đụng đến đấy. Dì liệu thu quén cho ông và các em bên nhà ít lương thực, kẻo nhỡ ra...

Bà hai nhìn mình biết ơn.

- Thế lại đi à? Bao giờ về?

- Để cháu liệu việc xem, nếu ông cho về sớm thì cháu về sớm. Công việc trong nhà, ngoài đồng, dì cứ bảo bà cả thuê thêm người làm. Đừng tham việc quá, ốm thì khổ.

Bà hai ngừng tay thái chuối. Sao nó ăn nói lạ thế nhỉ? Mấy năm nay đã chẳng thành người trong nhà rồi a? Bảo sắp đói to còn mò mặt đi đâu? Hay nhà này đối xử tệ bạc quá. Đừng có “vơ đũa cả nắm” chứ. Chuyện cô Xinh ầm ĩ ghen tuông cho mẹ hồi năm ngoái, đã chẳng thu xếp rõ ngô rõ khoai rồi là gì. Tiếng bà cả từ nhà trên vọng xuống:

- Thằng Hoành đâu? Xong rồi đây!

Khoác tay nải quần áo lên vai, mình chào:

- Hai bà giữ sức khỏe nhé. Cháu đi đây.

Bà cả chép miệng:

- Vẽ chuyện! Mấy hôm nữa về cắt sơn nhá.

Chỉ bà hai linh cảm điều gì đó từ câu chào của mình. Bà vào bếp, lén chùi nước mắt, chiếc que cời bếp chọc tung đám than tro mù mịt. Ba ngày sau, ông Xung về. Bà hai hỏi chồng thằng Hoành đâu? Ông bảo nó đi làm chỗ khác rồi. Bà cả chửi:

- Cha bố quân gà cỏ, ăn xong quẹt mỏ về rừng.

Rồi bà nhủ thầm, may nó quên, không đòi năm hào bảy xu tiền làm. Bà hai thấy trong người rã rượi, không thiết làm việc gì. Tối ấy, bà cả rỉ tai chồng:

- Khéo dì nó có tin mừng. Ông có tiền cho tôi mấy đồng đi chợ Đồn.

- Tay hòm, chìa khóa bà giữ. Còn hỏi tiền tôi.

- Là tôi muốn cái lộc của ông ấy chứ.

Ông Xung đưa cho vợ một đồng. Lại đi ngồi tam cúc chứ chợ búa gì. Đang chết đói đầy đường kia kìa, không lo phòng cơ tích cốc. Bà cả nhổ toẹt bã trầu.

- Ôi dào! Không bằng ông đặt một tiếng xóc đĩa.

Mình về nhà mấy hôm, cùng thằng Danh đi cướp kho thóc Nhật, rồi đi một lèo.

Đêm khuya, tiếng cửa buồng kẹt mở làm bà hai giật mình. Lâu lắm ông Xung mới vào buồng vợ. Khác với những lần hùng hục bởi say rượu hay cuống cuồng vì mặc cảm, lần này ông nhẹ nhàng vuốt ve vợ, xoa rất lâu lên bầu vú căng đầy.

- Dì nó cố đẻ cho tôi thằng cu. Thời buổi loạn lạc, chẳng biết thế nào, không có người hương khói thì tủi lắm. Giàu có mà làm gì!

Tấm thân mát lạnh của người gái đương thì run lên, nóng ran cùng với tiếng thổn thức cố ghìm lại. Bà hai ôm chặt lưng chồng, lòng trào lên nỗi thương hại. Lần đầu tiên sau mấy năm làm vợ, bà thấy mình thỏa mãn. Khổ nỗi, trong vòng tay xiết chặt, bà lại tưởng tượng đang được ôm tấm lưng chắc lẳn của cậu Hoành. Đêm nay trời mát, bà ngủ thiếp đi, với cảm giác ấm ấm vùng bụng dưới. Tiếng con chó mực rít lên ư ử ngoài sân, bà chợt ngồi dậy, hốt hoảng:

- Hoành... thằng Hoành về!

Ông Xung vỗ nhẹ lên lưng vợ.

- Ngủ đi! Thằng Hoành nó đi xa rồi.

***

Nắng chiều hắt ngược. Núi xanh biếc, gối đầu mấy đám mây trắng xốp. Đá nằm ngổn ngang tựa đàn voi, đàn trâu dọc theo bờ suối. Có một đoạn suối khép lại, dốc xuống dòng thác nhỏ, chảy cuộn thành vụng trong vắt. Tảng đá ven bờ rộng bằng chiếc giường nhỏ, phía sau có cây bồ quân cao, dọc thân lởm chởm từng chùm gai nhọn hoắt, trên cành sai trĩu nhưng chùm quả tím mọng. Một người phụ nữ cao lớn, mặc quần áo ka ki màu cứt ngựa, loại quân trang của Nhật, đầu đội mũ chào mào cùng màu. Bên hông cô sề sệ hộp gỗ đựng súng ngắn, báng súng buộc tua ngù đỏ. Cạnh đó, hai con ngựa ung dung gặm cỏ. Nhìn lên cây bồ quân, người nữ kêu:

- Nhiều rồi vớ! Xuống thôi!

Người thanh niên cũng mặc đồ ka ki vàng, lựa từng chỗ trống trên thân cây, thả mình xuống đất.

- Hồng Kỳ xem này. Gai bồ quân giống tay con gái, làm mình chảy máu rồi.

Người được gọi là Hồng Kỳ cầm bàn tay rớm máu lên xem, rút khăn tay ra buộc lại.

- Sao lại nói xấu con gái. Nói xấu chỉ huy thế, không sợ bị kiểm điểm à?

Cô gái cười vang, phun đám hạt bồ quân lên đôi dép cao su của thanh niên.

- Con gái Nùng hiền như mèo ngủ cạnh bếp thôi mà. Đồng chí Hoành có sợ vợ không?

Hoành cúi xuống, dùng một bàn tay khoát nước rửa mặt, xong ngẩng lên nhìn Hồng Kỳ, đội trưởng quân báo của mình.

- Tôi không được ở gần vợ, nhưng thấy cô ấy còn thua đội trưởng nhiều mặt. Đẹp mà ghê gớm như Hồng Kỳ thì cũng đáng sợ đấy.

Đôi mắt phượng với cặp mày xếch có lửa.

- Đồng chí mới về đơn vị, đã nghe chuyện tôi giết tên Việt gian ở Lũng Vài rồi à? Nó ác còn hơn cọp, một tay cưỡng bức hàng chục chị em Tày, Nùng. Những đứa ấy, tôi giết mấy lần cũng không sợ đâu.

Hồng Kỳ nhìn người đội viên trẻ, có vẻ coi thường. Người thế kia, chắc chưa đánh trận nào cho ra hồn. Hoành nhận ra ngay ánh mắt ấy, nên ngồi xuống hòn đá, chậm rãi kể về mấy kỉ niệm chinh chiến của mình. Đội trưởng tưởng tôi là tân binh chưa biết sống chết ra sao phải không? Năm đánh nhau với quân Tàu Tưởng và bọn Việt quốc - Việt cách ở ga Ấm Thượng, đang xung phong giáp lá cà thì mình vấp đường ray, ngã sóng soài. Thằng lính Tưởng chĩa súng vào đầu mình, coi như cầm chắc cái chết. Cậu Dũng cùng tổ từ phía sau xông đến, xỉa một mũi lê vào lưng thằng địch, mình thoát chết. Một trận, đi tàu hỏa lên Yên Bái truy quét quân Quốc dân đảng, mới qua Phú Thọ đã bị chúng phục kích, súng máy bắn rát rạt, cháy xém tóc mà không chết. Một lần đi trinh sát, bị địch quây ở phố Lu, đạn vãi quanh mình, vẫn bỏ chạy thục mạng ra bờ sông, nhảy ùm xuống nước. Bơi một quãng, quân địch đuổi kịp đạn bắn tung tóe nhưng không dính viên nào.

Hồng Kỳ lột chiếc mũ trên đầu xuống, bỏ mấy chùm quả bồ quân vào. Ánh lửa trong đôi mắt phượng dịu đi.

- Ô! Thế là đồng chí giỏi hơn mình đấy. Từ nay trở đi, lúc nào không bận công tác, hội họp, đồng chí Hoàng dạy mình học chữ với. Mình có học rồi, nhưng nhớ không hết mặt chữ.

Hồng Kỳ tên thật là Đoàn Thị Luông, quê ở Lạng Sơn, năm nay hai mươi bốn tuổi. Cô cao lớn, xinh đẹp và có tài trinh sát. Từng được Đại tướng1 khen vì thành tích tiêu diệt bọn phản động Việt gian. Cô được cử làm đội trưởng quân báo của trung đoàn, còn Hoành sau trận “chơi nhau” với quân của đại tá Lộc trùm thổ phỉ ở Yên Châu thì bị thương, rồi chuyển về đơn vị mới, là đội quân báo của Hồng Kỳ.

Hai con ngựa nâu băm nước kiệu qua đỉnh Nà Rậm. Hoành chỉ xuống khu nhà tan hoang bên dưới, bảo Hồng Kỳ:

- Nhà bố vợ tôi đấy, đội trưởng ạ.

- Ồ! Có ghé thăm không?

Dừng lại trước cánh cổng tre và hàng rào nứa tan hoang, hai người thấy trong nhà vắng tiếng người. Có vẻ mọi người bỏ đi hết rồi. Thôi, mình ghé qua thăm nhà, nghỉ đêm rồi mai đi Sơn La sớm. Hoành ngồi trên ngựa, mà lòng lo lắng, không biết cả nhà ông Xung đi đâu hết. Vợ con mình liệu còn ở nhà không? Đêm nay, sẽ cho Hồng Kỳ ngủ chung với bầm. Mình cũng ngủ riêng, không thì bất tiện quá. Lúc qua suối, họ gặp một người đàn bà gầy gò, dắt theo thằng cu bụng ỏng, đít vòi, đang bưng rổ rau đi lên. Nghe tiếng Hoành nói chuyện, người đàn bà chạy lên, vứt rổ rau, bỏ cả thằng cu. Bà chững lại khi thấy hai con ngựa. Rồi bà kêu lên:

- Giời phật ơi! Cậu Hoành! Cậu bỏ đi đâu mấy năm nay...

Bà ta ôm mặt khóc hu hu. Hoành đã nhận ra người quen, liền nhảy xuống ngựa.

- Dì hai phải không? Cậu út đây à? Thế ông và bà cả đâu mà nên nông nỗi này?

- Cậu ơi! Tan đàn xẻ nghé cả rồi. Ông ấy bị quy là Việt gian, bị bắt nhốt trên Hạ Hòa ấy. Tài sản bị thu sạch, chẳng còn cái máng cho lợn ăn nữa. Bà cả bỏ về quê, hai đứa con gái thì nhờ vả nhà chồng. Vợ cậu cũng đang sống dở, chết dở kia kìa. Cậu có cứu được ông ấy không?

Cơn lo sợ rùng rùng chạy dọc sống lưng Hoành. Hồng Kỳ ngồi trên ngựa, lắng nghe câu chuyện, đôi mắt xếch lên, ngạc nhiên. Rút trong túi rết ra tập giấy tờ bọc giấy bóng, Hoành xem lại một lúc rồi reo lên:

- Vẫn còn đây! Đội trưởng thông cảm. Tôi xin phép đi cứu bố vợ, tôi còn giữ tờ giấy chứng nhận ông ủng hộ Việt Minh tiền bạc, thóc gạo. Không thể để ông ấy phải chết oan.

Hồng Kỳ nghiêm khắc:

- Đồng chí hãy tỉnh táo. Mình đã học tập nhiều về lập trường, giai cấp. Đừng vì tình riêng mà quên nhiệm vụ.

Hoành đưa tờ giấy cho Hồng Kỳ:

- Hồng Kỳ đọc đi! Tôi không muốn là kẻ vô ơn, bội nghĩa. Tôi muốn cứu ông ấy, dù không là bố vợ tôi cũng cứu.

Hồng Kỳ lúng túng.

- Mình không đọc được! Thôi tùy đồng chí. Bây giờ thế nào?

- Tôi sẽ đưa Hồng Kỳ về nhà, giới thiệu với gia đình. Đêm nay Hồng Kỳ ngủ với bầm tôi. Ngày mai tôi trở lại, mình cùng đi Sơn La.

Bà hai tay dắt thằng con, chùi nước mắt. Cậu Hoành ơi. Nếu cứu được ông ấy, thì cậu cố giúp mẹ con tôi. Ngày trước, tôi có ý nghĩ chẳng ra gì, chắc cậu giận. Tôi cứ mơ tưởng chuyện khác, nhưng nghĩ lại, con người ta cũng phải biết phận mình. Bây giờ tôi đã có con, không lẽ để thằng em cậu mồ côi bố. Tôi đặt tên nó là Tung cậu ạ. Tung hoành ấy mà. Hoành cũng dụi mắt.

- Cả đời tôi biết ơn đội trưởng đấy. Tôi đi nhé.

- Đi đường mạnh khỏe. Nhớ ngày mai có mặt ở nhà đấy.

Hoành ra roi, vó ngựa vút đi. Từ đây lên Hạ Hòa ba chục cây số, ngựa chạy nhanh sẽ kịp thôi.

Mười hai giờ trưa hôm sau, Hoành mới về tới nhà. Hồng Kỳ đang sốt ruột đứng bên con ngựa, sẵn sàng lên đường. Vợ Hoành ngồi bệt trước cổng, chắc chờ đợi lâu lắm. Thấy tiếng vó ngựa lóc cóc, cô vùng đứng dậy, chạy ra đón. Hoành nhảy từ trên ngựa xuống, vỗ vai vợ.

- Xong rồi! Mấy hôm nữa thầy về. Còn cơm cho tôi ăn tạm một miếng. Cho con ngựa nghỉ một tí, nó chạy một mạch từ trên ấy về đấy.

Hồng Kỳ mừng quá, vội dắt con ngựa ra sau vườn.

Đêm ấy không qua kịp đèo Cón, phải ngủ nhờ lại nhà dân ở sông Vèo. Lúc lên đường buổi sáng, Hoành lại mặc cả.

- Đến đất Hòa Bình, đội trưởng lại cho tôi nghỉ một tí tìm người nhà nhé.

Rất tiếc, quán nước xưa không còn, chỉ trơ lại nền cũ đầy cỏ hoang. Ba hòn đá dùng làm kiềng lấp ló sau ngọn cỏ xanh. Hoành có dừng lại xóm Mường ven đường, hỏi thăm cô Mong. Ai cũng lắc đầu, không biết.


1 Đại tướng Võ Nguyên Giáp.



. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả chuyển từ TâyNinh ngày 31.3.2018.

VIỆT VĂN MỚI NEWVIETART NHỊP CẦU NỐI KẾT VĂN HỌC NGHỆ THUẬT VIỆT NAM TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC TỪ NĂM 2004