Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới







tiểu thuyết


LÃO HÓI










    Mở tập bản thảo tiểu thuyết “Lão Hói” mà nhà nghiên cứu Đồng Ngọc Hoa gửi qua email nhờ đọc và cho ý kiến, tôi thầm nghĩ: Vốn là người chuyên nghiên cứu phê bình, bây giờ lại viết tiểu thuyết thì đa tài thật.


    Đồng Ngọc Hoa nguyên sĩ quan kỹ thuật, tốt nghiệp đại học kĩ thuật quân sự, nhưng lại có khiếu làm báo. Ông là cộng tác viên báo quân đội và nhiều báo khác nhiều năm liền. Vào tuổi sáu mươi, ông mới gia nhập Hội khoa học lịch sử Việt Nam và Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh với vốn liếng là một tập phô tô với hàng trăm bài đăng báo và một giải thưởng báo chí trung ương. Vậy mà chỉ sau dăm năm, ông lần lượt cho ra đời mấy tác phẩm liền. Tác phẩm đầu của ông là cuốn Lịch sử Phật giáo huyện Trực Ninh. Đây là tác phẩm đầu tiên viết về lịch sử Phật giáo cấp huyện ở nước ta, được bạn đọc đánh giá cao, được nhận giải thưởng Văn học Nghệ thuật Lương Thế Vinh của tỉnh. Sau thành công này, Đồng Ngọc Hoa liên tiếp cho ra đời các tác phẩm mới như Ngôi chùa bên dòng sông, Lịch sử Phật giáo tỉnh Nam Định, Tuyển tập nghiên cứu phê bình Đồng Ngọc Hoa, Lâu đài của Phật và lịch sử đảng bộ và nhân dân của nhiều xã. Ông còn là đồng tác giả nhiều tuyển tập nghiên cứu phê bình khác. Cuốn Lịch sử Phật giáo tỉnh Nam Định của ông dày gần tám trăm trang, trình bầy mạch lạc nguồn tư liệu phong phú về lịch sử Phật giáo tỉnh Nam Định. Những tác phẩm viết về chủ đề Phật giáo là điểm sáng trong sự nghiệp nghiên cứu của ông. Cảm phục sức làm việc và thành quả của Đồng Ngọc Hoa, tôi có viết mấy câu tặng ông:


          Một thời mê mải việc quân


          Viết văn làm báo tuổi xuân trôi vèo


          Cửa Thiền không - sắc lần theo


          Hào quang Phật sử một chiều thăng hoa.


    Tên tiểu thuyết Lão Hói, ban đầu ông đặt là Người viết sử. Sau nghĩ lại, ông lấy tên Lão Hói đặt cho tiểu thuyết của mình.

    Lão Hói kể về cuộc đời từ khi lọt lòng tới khi tuổi đã ngoài bảy mươi với nét đặc biệt về hình hài, tính cách và những biến cố thăng trầm của nhân vật Lâm Thanh (tức Lão Hói).


    Lão Hói khác người từ khi mới được sinh ra: “Lúc mẹ đẻ ra, đầu lão chẳng có tí tóc nào, người bé tí khoảng hai cân. Người ta cứ bảo hay mẹ lão đẻ non nhưng không, lão khóc to như xé vải, không trách sau này lão là gã lắm mồm. Rồi sáu bảy tháng sau tóc lão cũng mọc, nhưng thưa hơn những bé bình thường. Khi mới ngoài bốn mươi tuổi lão đã hói. Người ta thường hói từ trán trở lên, lão lại hói từ đỉnh đầu trở xuống”.


    Tính cách, sở thích của Lão Hói cũng rất khác người. Lão nhớ ngày định kỳ cắt tóc như nhớ ngày lĩnh lương. Thợ cắt tóc phải cắt đúng theo bản vẽ tỉ mỉ chính xác như bản vẽ kỹ thuật mà lão thiết kế. Lão đòi chủ cửa hàng ăn phải phục vụ khách như phục vụ thượng đế. Thấy người giúp việc bê bát phở để hai ngón cái chấm vào nước bát phở, lão đòi đổi bát khác… Khi đã là sĩ quan quân đội, lão làm việc cần mẫn, thông minh, tính kỷ luật cao, thẳng thắn không khoan nhượng với những việc làm chạy theo thành tích, qua loa, vô trách nhiệm. Khi về hưu, lão trở thành người cầm cờ trong đấu tranh chống tệ quan liêu, tham nhũng, cửa quyền ở địa phương, bất chấp bị trả thù… Những khiếm khuyết của lão trong tình cảm, hình thể được mô tả cụ thể, chi tiết nhưng không làm bạn đọc ghét lão. Lão cũng là người, có ưu có khuyết. Qua giọng kể của tác giả, tôi nhận ra hình tượng Lão Hói hiện lên rất chân thực.


   Qua tiểu thuyết Lão Hói, tác giả muốn cho người đọc biết về lớp thanh niên có học được đào tạo cơ bản phục vụ quân đội trong công cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Lâm Thanh - Lão Hói, một chiến sĩ quân giới năng nổ, hăng hái nhiệt tình có trình độ, trách nhiệm luôn luôn làm hết sức mình. Ở tiền phương anh luôn xông pha xoay tìm hỏng hóc, ở hậu phương anh luôn miệt mài gia công sản xuất để đảm bảo cho súng pháo nổ dòn sẵn sàng tiếp sức cho tiền duyên, xứng đáng kế tiếp lớp quân giới của Ba Tơ anh hùng, của núi sông Việt Bắc, của chiến thắng Điện Biên vẻ vang. Người đọc cũng thấy được cuộc chiến tranh thần thánh giải phóng dân tộc của nhân dân ta với những hy sinh của tuổi trẻ trên khắp các chiến trường, khắp các lẻo đường chiến trận, kể cả của các chiến sĩ quân giới trên mặt trận thầm lặng mà ít người biết đến. Lão Hói là nhân vật trong số lớp trẻ đó. Cuộc đấu tranh chống tiêu cực, tự hoàn thiện mình của Lâm Thanh-Lão Hói cũng không phải không gay go quyết liệt qua chuyện phản đối vụ hàng ngàn chiếc kim hỏa của súng B40 không đạt yêu cầu, việc báo cáo thành tích giả qua chuyện nhập kho khống và người xấy thuốc ngủ quên đến việc buộc phải túm cổ áo trung úy trưởng phòng kế hoạch, cấm đốc công Phiên lấy số liệu để phát thanh làm lộ bí mật, làm cho chính ủy nhà máy cũng phải khiếp lão báo cáo về cục.


    Lão Hói cũng có gia đình và tình yêu tuổi trẻ, tình yêu thuở học trò. Lão cũng được yêu như bao nhiêu thanh niên khác. Người ta yêu mình thì chẳng có tội gì miễn là nói thẳng được như lão: “ Anh có vợ rồi” và giữ được tình bạn đẹp với cả những cô gái thích mình. Lão gần gũi với công nhân, hiểu tâm lý người thợ. Lão vốn là một học sinh giỏi văn, lại có duyên với công tác chính trị. Lão muốn làm nhà báo và đã chuyển về công tác ở báo Quân đội. Nhưng thủ trưởng đơn vị đòi lão về, vì nhà nước đã mất công đào tạo lão để phục vụ ở ngạch kĩ thuật. Lão vẫn phải gắn bó với nghề cho đến lúc về hưu, chấp hành phân công của tổ chức.


    Là một người có ý thức tổ chức, người vì dân, thương dân nghèo khó bị hành hạ qua chi tiết người chồng bế con lên nhà kho hợp tác xã nơi vợ bị giam vì thiếu sản để mẹ vạch vú đút qua song sắt cửa sổ cho con bú. Thương dân chết đói năm 1945 qua thống kê khi lão viết lịch sử xã. Lão tự hào với những chiến công của những người giữ đất giữ làng như liệt sĩ Hà Sĩ Hùng thà chết chứ nhất định không chịu rơi vào tay giặc, liệt sĩ Hà Tất Đạt bỏ tài liệu vào mồm nhai nuốt rồi đập cằm xuống bàn cho đứt lưỡi hi sinh trước mặt kẻ thù lúc chúng đang dụ dỗ anh khi bắt được. Lão ghét cay ghét đắng những kẻ gọi là đầy tớ của dân nhưng lại ăn bớt, ăn chặn ăn bẩn ăn vặt của dân, ăn cả lần trong lần ngoài, ăn cả cái đầu cúi tôn chổng của dân, ăn ráo cả phần của trẻ con qua lời thề của thằng bé đứng cửa buồng cắn móng tay nhìn cán bộ ăn xông ra nói: “Tôi thề với các ông là chỉ còn tý nước” nhưng rồi nước cũng chẳng còn.


    Lão rất yêu mảnh đất nơi sinh ra mình đó là xã Mỹ Khê, một xã anh hùng thời chống Pháp, được Thủ tướng Phạm Văn Đồng về thăm do có thành tích chăn nuôi dẫn đầu toàn Miền Bắc. Lão yêu con người làng mình, xã mình nên yêu cả những nghề phụ góp phần nuôi sống dân mình như nghề dệt chiếu và cả câu cáy lão cũng cho là một nghề vì làm ra những giọt nước chấm ngon hơn cả Chin-su khi nhấm nháp thấy mằn mặn, ngòn ngọt, thơm thơm tê tê mùi cà cuống.


   Nhưng rồi cái yêu làng yêu người đã làm lão gặp phải không ít khó khăn, khi chống lại cái xấu, cái ác, cái đểu, cái mà làm lão suýt đến mất mạng trên mặt trận chống tham nhũng ngay tại chính quê hương mình. Nhờ có đồng chí đồng đội và nhân dân ủng hộ nên những kẻ xấu nơi một xã tưởng như bình yên đã được lôi ra ánh sáng, đã bị vạch mặt, kỉ luật để răn đe kẻ khác muốn nhấp nhổm làm cán bộ với mục đích lấy của dân làm giàu, lấy lại niềm tin của dân đối với đảng quang vinh.


    Tôi đọc từ đầu đến cuối tập bản thảo hơn trăm trang A4 luôn cảm thấy thú vị. Nghệ thuật kể chuyện theo thời gian một cách giản dị, giản dị tới mức tưởng ai cũng viết được, nhưng không, sự giản dị ấy lại là nghệ thuật sử dụng ngôn từ giúp bạn đọc dễ theo dõi cốt truyện. Mặc dù ít khi thấy tác giả miêu tả hình ảnh khung cảnh thiên nhiên hỗ trợ cho tả tình, nhưng giọng kể tự trào bù lại làm cho người đọc bị cuốn hút.


    Đọc hết tập bản thảo, tôi củng cố thêm cảm nhận ban đầu: Đúng là nhà nghiên cứu viết tiểu thuyết. Tiểu thuyết gồm 9 chương. Mỗi chương có thể đứng độc lập thành một tác phẩm với chuyên đề riêng, Mỗi chuyên đề đều có những kịch tính tuy chưa quyết liệt và được giải quyết ngay làm cho bạn đọc thở phào. Chín chương kết nối với nhau thành một nội dung liên hoàn lô gic: Tái hiện cuộc đời của nhân vật Lâm Thanh - Lão Hói. Có lẽ nghề nghiệp nghiên cứu ảnh hưởng, tác giả có lúc đi sâu vào một chuyên đề như Lịch sử xã, hay lịch sử một di tích… Nhưng chính những kết quả của ảnh hưởng nghề nghiệp này lại tái hiện hoàn cảnh lịch sử, cuộc chiến tranh cách mạng của nhân dân ta… là môi trường để nhân vật chính - Lão Hói bộc lộ tính cách.


   Là đồng nghiệp rất hiểu và quý trọng Đồng Ngọc Hoa tôi nghĩ: Lão Hói - Lâm Thanh trong tiểu thuyết phần nào cũng gợi lại cuộc sống, suy nghĩ, chiến đấu, lao động của một lớp người đi qua cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ và những năm đầu đổi mới. Bạn đọc có nhu cầu nghiên cứu về họ có thể được phần nào thỏa mãn qua tiểu thuyết Lão Hói.


   Trần Mỹ Giống
    Nhà nghiên cứu phê bình



Chương I


L úc mẹ đẻ ra, đầu lão chẳng có tí tóc nào, người bé tí khoảng hai cân. Người ta cứ bảo hay mẹ lão đẻ non nhưng không, lão khóc to như


xé vải, không trách sau này lão là gã lắm mồm. Rồi sáu bảy tháng sau tóc lão cũng mọc, nhưng thưa hơn những bé bình thường. Khi mới ngoài bốn mươi tuổi lão đã hói. Người ta thường hói từ trán trở lên, lão lại hói từ đỉnh đầu trở xuống. Có người nói: “Hói như hắn thì không bị chết đột tử bao giờ”. Hôm lão say rượu ngã gục xuống bờ ruộng, vợ hắn phải vắt ngang qua yên xe để đèo về nhà, không chết thật.


Bỏ cái tã nồi đen ra, đầu lão nhẵn thín như cái đít nồi đồng. Lão hay cắt tóc, lại cắt rất cầu kì. Lão nhớ định kỳ cắt tóc như nhớ ngày lĩnh lương hàng tháng. Hồi còn đóng quân ở Hà Nội, một lần chủ nhật được nghỉ, đi ăn sáng, tôi gặp lão cũng vào quán phở. Lão gọi:


- Này bà chủ quán.


- Dạ.


- Tôi đặt bà bát phở ba đồng, không có mỳ chính. (Hồi ấy có tin đồn mỳ chính là để dùng ướp xác người chết) - nói rồi lão rút trong túi ra cái lọ Penexinin đựng đầy mỳ chính để cạch trên bàn, ngồi đợi. Lúc sau, một cháu bé lom khom bưng bát phở nghi ngút hương thơm ra đặt trước mặt lão. Lão nhìn cháu bé rồi gọi to:


- Này bà chủ quán.


- Dạ.


- Tôi đặt bà làm phở chứ có đặt con bé này đâu mà nó bưng bát phở ra, hai ngón tay cái nhúng cả vào nước phở thế này thì ai ăn?

Nghe thượng đế nói có lý, bà chủ quán chiều khách sai cháu bé bê bát phở vào. Bà trực tiếp bê ngay cái khay đựng bát phở lúc nãy ra cho lão. Ừ, lão hạch sách cũng có lý, nhưng cũng có thể là lão hâm. Tôi ăn xong, liền đi cắt tóc còn về tắm giặt cho hết sáng chủ nhật.


Tại hiệu cắt tóc, tôi lại gặp lão. Vừa vào lão đã rút trong túi ra tờ giấy vẽ một cái đầu tóc mẫu, ghi chú kích thước chằng chịt. Nào là từ chân tóc ở cổ trở lên mấy phân thì nhẵn rồi xanh dần với góc độ vuốt lên tới đỉnh là bao nhiêu. Nào là bấm gáy vuông rộng bao nhiêu, vát lên hai mang tai góc độ bao nhiêu… Chìa bản vẽ cho thợ, lão hất hàm hỏi: - Ông có cắt được không?


Ông thợ cắt tóc xem đi xem lại bản vẽ, xong lại ngó trước ngó sau cái đầu lão rồi trả lời:


- Tôi cắt được.


Lão ngồi vào ghế để thợ thi công đầu tóc lão theo bản thiết kế. Phải công nhận cái đầu lão sau khi cắt xong theo bản vẽ trông cũng được. Có bản vẽ như người ta xây cái nhà cũng có khác. Thợ đòi lão trả công gấp đôi bình thường. Lão không nói không rằng, soi gương trước, ngắm gương sau, nhìn bản vẽ một lúc lâu. Chừng như vừa lòng với công trình, lão gật đầu quyết định nghiệm thu… Lão móc ví đếm đủ tiền công, lại xòe ra thêm ba đồng thưởng cho thợ:


- Đãi ông bát phở.


Về già, đi cắt tóc không thấy lão đưa bản vẽ đi nữa, nhưng cái thú cắt tóc vẫn còn. Lão cắt tóc để chứng minh rằng lão không hói. Ai chê lão hói là lão chửi, chửi thậm tệ, chửi để chứng tỏ lão vẫn còn nhiều tóc chứ không phải hói, chửi để quên đi cái chuyện đẻ ra lão không có tóc. Lão chê mấy cha nhà quê cắt tóc đểu, không bằng thợ tỉnh ngày xưa cắt cho lão. Lão quyết tập đi xe đạp để còn định kỳ đạp xe lên tỉnh cắt tóc… Tôi về quê sang thăm bố lão, thấy lão đang nằm cong queo ở giữa sân, cái xe đạp đè lên người. Thấy lão bất động, tôi tưởng lão chết. Nhưng khi thấy tôi, lão gọi to: “Bác ơi! Bác đã về, bác giúp em một tay”. Tôi dựng cái xe đạp lên cho lão bò dậy, nhưng không được, cái xe đạp đã dính chặt vào lão. Thì ra cái giải rút quần ngố của lão cuốn chặt vào líp xích xe. Tôi lấy dao cắt dây rút quần ra lão mới dậy được. Lão hổn hển nói không ra hơi:


- Bác biết không, em tập xe gần đi được rồi, nhưng hôm nay đạp sao nó nặng thế, không bon tí nào, thì ra là tại cái rút quần quấn vào xích líp. Em càng đạp nó càng kéo ghì em xuống, em cũng cứ đạp xem đứa nào thắng, đạp cho đến lúc nó kéo người em xuống lăn kềnh ra sân chân dưới chân trên em quặp chặt lấy cái xe đạp mà bánh của nó vẫn cứ quay. Em không biết làm sao mà gỡ ra được, Cuối cùng thì như bác biết. Cũng may mà ngã ở sân, chứ ngã trên phố tỉnh thì bán bêu bác nhẩy. Đã đến kỳ cắt tóc, lần này thì lão quyết không cắt mấy cái ông thợ đểu nhà quê. Lão đi xe ô tô ra tỉnh để cắt tóc. Lão xuống bến xe được xe ôm dẫn đường vào hiệu cắt tóc. Nhìn một lúc hắn thốt lên: chà, hiệu cắt tóc phải thế này chứ. Cắt cho lão là một phụ nữ khoảng ngoài ba mươi tuổi, trẻ đẹp, thỉnh thoảng làn tóc mây cứ xõa xuống mặt hắn. Lúc cạo mặt, mùi thơm nước hoa từ tóc mụ làm lão ngây ngất. Cái bụng đầy mỡ của mụ cứ cọ cọ vào tay, vào người lão làm lão tê mê. Lão nghĩ bụng: “Hơn đứt gái nhà quê…” Đến lúc lấy ráy tai, lão cũng không quên tỏ ra thành thạo bảo thợ lấy bên trái trước, bên phải sau nó mới không bị ho. Ho là nguy hiểm lắm. Nhưng lão có biết đâu cái nguy hiểm sắp đến với lão mà lão không biết. Lão nhắm mắt nằm im nghe cái dao lá lúa cạo xồn xột trong tai, lão tê mê người khi dụng cụ cứ làm buồn trong tai, chả biết có lấy được cái ráy nào không nhưng cũng thích ơi là thích. Lấy xong bên

trái lẽ ra phải xoay ghế để lấy bên phải thì cô thợ lại chồm người qua mặt lão, dí cái ngực đẫy đà vào mặt lão, quờ tay sang lấy ráy tai bên phải. Lão cố mở mắt nhìn bộ ngực trắng nõn là cứ day đi day lại vào mồm, vào mũi lão. Lão không dám thở, bụng bảo dạ cứ nằm im xem sao. Lão cũng định mở mồm bảo nhấc lên một tý cho lão thở, nhưng lão lại nghĩ bây giờ mà mở mồm ra nói thì cái núm cương cứng bần bật nóng hổi kia đang quét đi quét lại trên môi hắn biết đâu sẽ nhảy tọt ngay vào mồm lão. Nếu vậy thì không biết chuyện gì sẽ sảy ra, chỉ còn nước bán áo đi mà trả tiền. Ví của lão không đủ tiền thật, tuy lão đã chuẩn bị đến vài trăm lên tỉnh để còn mua cái này cái khác nhưng chắc mụ vợ đã nắn mất một 100 đồng rồi. Thật là mất cảnh giác. Đã một lần lão đi ăn phở móc ví ra trả tiền thì chẳng có đồng nào, mụ vợ đã móc hết từ khi nào. Hắn phải bán cái áo com lê thật, mặc áo len về nhà cũng được rồi. Hắn cầm cái áo ra cửa, lũ con phe xúm lại đứa xem, đứa kéo, đứa giằng, đứa lộn áo ra kiểm tra, đứa trả cao, đứa trả thấp, lão bảo không được 200đ không bán. Bọn con phe cười ầm lên gọi nhau: “Chúng mày ơi lại đây xem lão hói bán cái áo 200đ này”. Lũ phe chạy lại càng đông túm vào ve vuốt lão nhà quê làm mặt lão đỏ tím ngượng như thằng ăn trộm bị bắt. Lão nghĩ lúc này mà gặp người làng thì không có lỗ mà chui…

Người ta bảo lão hâm, mà có lẽ hâm to thật. Hồi lão mới về hưu, vợ lão đã chuẩn bị vật liệu để đổ cái hiên tây, bảo lão đi xem ngày nào tốt để còn làm, lão quắc mắt nhìn vợ quát:


- Làm cái gì? Để tao còn phải đi báo cáo tổ chức đã chứ. (Lão quen như hồi còn ở đơn vị nhất cử nhất động là phải báo cáo tổ chức) vợ lão lại còn quát lại to hơn:


- Tổ chức, tổ chức ngay cái... Tao có tiền có của tao làm chứ việc gì tao phải báo cáo đứa nào. Lại một cuộc ẩu đả giữa vợ chồng lão sảy ra làm inh ỏi xóm làng khi mụ vợ giám động đến cái tổ chức cao sang của lão. Lần đánh nhau này lão thua nên sáng mai lão lại phải chịu sự phân công của vợ đi tát nước cho ruộng lúa. Lão vác chiếc gầu kéo lên vai ra đồng kéo suốt từ sáng đến 11 giờ trưa. Không thấy lão về, vợ lão tưởng lão đi chơi, ra đồng kiểm tra thì thấy lão vẫn hí húi kéo nước xì xòm, nước ngập hết ruộng nhà hắn tràn bờ ngập ráo cả những thửa ruộng bên cạnh. Vợ hắn kêu làng kêu nước rồi lội xuống máng tát vứt gầu lên bờ, rút hai que tre trượt máng, lão tưởng đánh lão nên vác gầu chạy miệng lẩm bẩm: “Ngày nào cũng gây sự với ông, ông mà chết thì bòi cũng chẳng có mà ăn”. Lão cũng mua một con bò, hàng ngày đi chăn gọi là “trâu chăn bò dắt” cho nó có đẳng cấp. Hôm ấy, lão vừa dắt bò ra ngõ thì gặp đoàn cán bộ của xã và hợp tác xã đi thăm đồng đông lắm, có cả bí thư đội trưởng các đội, lão hô to:


- Ơ! Hai con trâu nó cỡi nhau các ông kìa. Mọi người nhìn sang bên kia cầu đá thì thấy hai con trâu đang phủ nhau thật. Lão bảo: Trâu hợp tác xã đấy các ông ạ. Mẹ cha nó chẳng giữ đạo đức gì cả, rõ người làm sao của tào hao làm vậy. Tay chủ nhiệm hợp tác xã giờ lên chủ tịch biết mình bị chọc quay lại:


- Này lão Hói chiều lên ủy ban nộp phạt nhá.


- Phạt cái gì?


- Phạt tội lão đùa với nhà chức trách hôm làm giấy chứng minh thư ấy. Lão nghĩ hôm công an huyện về xã làm chứng minh thư nhân dân, đến lượt lão đồng chí công an hỏi:


- Họ tên?

- Hòi Văn Búi. Công an tìm mãi trong danh sách bảo:

- Không có Hòi Van Búi.


- Hòi Văn búi là Bùi văn Hói mà.


- Ông đùa với nhà chức trách hả?


- Xin lỗi nhà chức trách. Chuyện có vậy rồi họ cũng cho qua, hôm nay chủ tịch lại bắt lên ủy ban nộp phạt là thế nào. Lão dắt ngay bò về thay quần áo chỉnh tề lên ủy ban. Đã mười giờ trưa, cỗ bàn phục vụ cho cán bộ đi thăm đồng đã xong. Ngoài đường bà con đi chợ về cũng đông, lão chạy ra ngăn bà con lại mời tất cả vào ăn cỗ. Mọi người đang đói thấy lão hói bảo vào ăn cỗ vào ngay, cứ hai, ba, bốn người ngồi một mâm ai vào trước ăn trước, vào sau ăn sau, còn bao nhiêu lấy phần hết sạch chục mâm cỗ. Cánh cán bộ đi thăm đồng về thì chỉ còn bát rếch. Từ đó dẹp được cái nạn ăn uống trên xã.


Lão làm thơ đọc cũng vần đáo để. Mọi người nghe cứ bảo lão gửi cho báo tỉnh. Lão gửi thật, gửi đến năm sáu bài liền không thấy báo đăng, rồi lão cũng nhận được cái giấy báo của tòa soạn là: “Chúng tôi đã nhận được bài của bạn, mong bạn tiếp tục cộng tác với tòa soạn”. Thế là lão mang cái giấy ấy đi khoe khắp làng. Khi người ta bảo: “Vậy là những bài lão gửi người ta không đăng rồi”. Lão tức đe bỏ tù tay tổng biên tập báo tỉnh vì lão viết về đề tài thương binh liệt sĩ mà thằng này phản động hay sao lại không đăng cho lão.


Hồi lão học cấp 3 trường huyện lão cũng được vào tổ bồi dưỡng học sinh giỏi văn để đi thi miền bắc cơ mà. Lão học giỏi thật, chả vậy mà lão được mua cung cấp chiếc xe đạp thiếu nhi liên xô. Nhưng những bài văn của lão thầy cho về nhà làm chả mấy khi được điểm 4, cao nhất là điểm 4- (bốn trừ). Mặc dù bài lão làm cho bạn trọ cùng nhà để thay không phải thổi cơm thì được những 5 điểm. Quên cái điểm bốn điểm năm đi, lão tự hào nhất là hôm thi tốt nghiệp thầy hiệu trưởng dặn lão là: “ Em phải bảo bài cho Quang Hy ngồi bên cạnh” rồi Quang Hy cũng đỗ tốt nghiệp vào tổng hợp văn, ra trường về làm phóng viên báo nhân dân.


Còn lão được chọn làm hồ sơ đi học ở Liên Xô. Chưa hết hè các bạn lão đã có giấy gọi đi học nước ngoài. Còn lão thì học đại học trong nước cũng không, mặc dù hồi ấy cứ tốt nghiệp phổ thông là vào ngay đại học, không phải thi cho đến mấy năm sau nữa. Lão chạy đôn chạy đáo hỏi ban tuyển sinh huyện tỉnh rồi về sau lão cũng được một người thịnh tình tiếc cho cái sự học của lão cho biết: “ Hồ sơ của lão bị giữ tại công an huyện”;



Chương II


Rồi lão lại được gọi vào bộ đội đi học lớp kĩ thuật quân sự ( tiền thân của trường đại học kĩ thuật quân sự) để trở thành sĩ quan chỉ huy


hệ cử nhân. Cả huyện chỉ có mình lão và Lê Minh Quý (con ông Lê Huy Đan phó chủ tịch huyện) được chọn đi đợt này. Trước hôm lên đường thầy hiệu trưởng Trạm Lê Văn thầy trực tiếp dạy môn văn cho lão lên chơi ngủ với lão một đêm căn dặn đủ điều. Tên thật của lão là Lâm Thanh, học xong Lâm Thanh được điều về công tại cục quân giới tổng cục hậu cần sau là tổng cục kỹ thuật bộ quốc phòng. Phòng làm việc của Lâm Thanh treo đầy tranh ảnh mặt cắt vả sơ đồ điện tử về các loại súng pháo, bàn làm việc là nơi để các chi tiết súng pháo nào máy nạp đạn, máy hãm lùi, máy ngắm…Lâm Thanh là người chuyên thiết kế các chi tiết thay thế cho những khẩu pháo cao sạ bị hỏng ở các trận địa kéo về sửa chữa ở các nhà máy. Giúp việc cho Lâm Thanh là Hạ Thúy một nhân viên kĩ thuật giỏi của phòng.

Ăn cơm chiều xong, Lâm Thanh rủ Hạ Thúy đi chơi, Hạ Thúy nhận lời ngay nhưng bảo chờ em một lát. Thúy cầm bàn chải đựng trong hộp nhựa thuốc phóng B40 đi đánh răng. Từ ngày Lâm Thanh về đây công tác thấy mình là một sĩ quan trẻ đẹp trai thỉnh thoảng bắt gặp ánh mắt nhìn trộm của Hạ Thúy. Cô cao khoảng một mét sáu mươi, súng xính trong bộ quân phục Tô châu màu xanh, tóc dài cặp lửng ngang lưng để xõa mái tóc hai bên dập dềnh óng mượt che hai nửa má bầu bĩnh hồng hồng làm nổi lên cái cằm chẻ đỡ cặp môi hình trái tim đỏ tươi ướt mọng. Lâm Thanh và Hạ Thúy đi chơi, Lúc đầu Lâm Thanh đi trước rồi chầm chậm đi ngang Hạ Thúy trên con đường cấp phối đất đỏ au. Lâm Thanh đi thẳng, không vào nơi đã định với Hạ Thúy, cũng không thấy Hạ Thúy hỏi sao, Lâm Thanh nghĩ bụng mình đã dắt được nàng. Khi thấy ánh đèn pin loang loáng đằng sau, không để cho ai biết mình đi chơi đêm cùng Hạ Thúy, Lâm Thanh bảo Hạ Thúy chờ anh rồi một mình rẽ xuống bờ ruộng trồng thuốc lá. Những cây thuốc lá được sáu bảy lá đã che được ý đồ lẩn trốn của mình, Lâm Thanh càng rảo bước. Ánh đèn pin đã đi xa, Lâm Thanh quay lại, Hạ Thúy vẫn đứng chờ, hỏi chọc:


- Anh bị đau bụng à? Lâm Thanh được dip sờ ngay vào bụng Hạ Thúy

- Ừ, anh cũng đau bụng như em lúc chiều. Hạ Thúy cầm lấy tay Lâm Thanh nhưng không có ý dun ra, áp thấp nhiệt đới vẫn quanh quẩn ở tọa độ phố Rốn, không chuyển lên thành bão. Thế rồi tay phải Lâm Thanh quàng ngay lên cổ Hạ Thúy còn tay trái luồn từ bụng sang eo hông, hai người ghì chặt lấy nhau bên gốc cây sà cừ canh đường. Hạ Thúy cứ ngển cái cổ cao trắng ngần lên như dấu điều gì còn đôi môi lâm Thanh cứ dục vào cùng cái lưỡi thì thụt, chòm chọp từ cổ lên hai má nhũn nhặn, man mát, tê tê rồi mút chặt lấy môi dưới nóng hổi của bạn gái, còn Hạ Thúy chỉ biết bập bập bờ môi trên xuống mồm bạn khác giới. Cứ mỗi lần có ánh đèn pha ô tô lướt qua họ lại bỏ nhau ra, Lâm Thanh nhìn rõ hai má bạn mình hồng hồng tới tận mang tai rừng rực bên trên cái núm đồng tiền càng lún sâu khi hạ Thúy cười. xe đi qua họ lại ôm chặt lấy nhau như đang sợ điều gì. Đêm ấy họ làm việc tới khuya, thỉnh thoảng cái chân “Thầy Đề” lại tìm gác lên chân “cô Hến” ngồi ở bàn đối diện. Hạ Thúy dục: Anh không đi ngủ à?, em xong rồi đây. Mùi nước hoa quen thuộc của Hạ Thúy cứ cuốn hút Lâm Thanh đến lao lòng, họ nhìn thẳng vào nhau cùng im lặng thật lâu cho bõ những ngày yêu thầm liếc trộm. Cứ mười lăm ngày đầu tháng Lâm Thanh làm việc ở phòng thiết kế nhà máy với hàng trăm hàng ngàn các chi tiết súng pháo để cho các kĩ sư đo đo vẽ vẽ mải miết trong một phòng làm việc rất quân sự mà Lâm Thanh ước ao được khoe với bố mình nơi làm việc ở đây nếu như được bố anh lên thăm đơn vị. Cũng như phi công Nguyễn Văn Cốc dẫn mẹ leo lên tận bậc thang cao nhất và chỉ vào máy bay cho mẹ biết: “Đây là chỗ ngồi của con”.


Lâm Thanh được cục giao nhiệm vụ đôn đốc việc cải tiến chân súng 12ly7. Gọi là theo rõi đôn đốc nhưng việc gì khó anh cũng phải ghé vai vào còn kiêm cả khâu tiếp vận nghĩa là chuyển bán thành phẩm từ khâu nọ đến khâu kia. Có lúc cùng với nhân viên của phòng kế hoạch vác mỗi người hàng chục chiếc ống chân 12ly 7 mới tiện xong từ X11 về X25 để mạ crôm. Quãng đường đi đêm xa tới trên 30km không có lấy một cái xe đạp để đi, làm cho giám đốc nhà máy ái ngại phải chào và dặn dò đến mấy lần khi tiễn các anh đi. Lúc đầu hai anh em còn hùng dũng lắm, mới một tiếng đồng hồ đã xuống tới gần Đông Anh. Qua trọng điểm này bụng đã bảo dạ nhưng cũng được bạn cùng đi nhắc chiều nay máy bay mỹ bỏ bom ở ga Đông Anh, qua đây ta phải cố gắng rảo chân. Đến lúc trèo qua cây đổ ngổn ngang chặn đường do bom địch bỏ lúc chiều, cố gắng đi quãng nữa cho hết quãng đường trọng điểm, hai anh em tiếp vận hàng quân sự ngồi vật xuống ngỉ bên vệ đê. Nằm gối đầu lên bao tải hàng ướt nhếp nhếp do thấm mồ hôi từ lưng áo ra Lâm Thanh mới thấy rõ ý nghĩa giảm từng cân (kg) của chân súng khi đã được cải tiến đối với bộ đội. Sương đêm đã lạnh, hai người rủ nhau sốc bao hàng lên vai đi tiếp. càng về khuya, chân càng mỏi, vai càng nặng, người càng gù xuống, bây giờ Lâm Thanh mới hiểu tại sao các nữ thanh niên xung phong hai tay hai gậy gù hàng leo dốc Trường Sơn, lúc đầu thì ai cũng hăng hái, cười nói râm ran, đến lúc nhọc rồi thì chẳng ai nói với ai điều gì, tất cả đều im như thóc ngâm, quần áo xộc xệch xu chiêng trồi cả lên trên chị em nào cũng thêm hai vú nữa. Ngồi giải lao họ tìm mọi thứ trong ba lô vứt được cái gì thì vứt đi cho đỡ nặng. Không còn cái gì vứt nữa có người còn mang cả cái bàn chải đánh răng ra để cắt ngắn sợi cước đi cho nhẹ. Giao ống chân súng cho xưởng mạ xong, Lâm Thanh vào nơi anh em đang làm cái súng hai nòng cho tướng Thiện nói: Các cậu làm khẩn trương lên, cụ ấy dục lắm rồi. trưởng phòng kế hoạch X25 kéo Lâm Thanh về phòng uống nước thì có tiếng xe con xin mở cổng, đoạn Nghi chạy vào: Báo cáo trưởng phòng tướng Thiện đến ạ rồi lại tự chạy ra đón. Bước từ trên xe xuống tướng Thiện nghe nghi:


- Chào thủ trưởng ạ


- Mày là thằng nào?


- Báo cáo cháu là Nghi cán bộ phòng kế hoạch ạ.


- Có Lâm Thanh đây không?


- Báo cáo có. Vừa lúc đó trưởng phòng kế hoạch


X25 và Lâm Thanh cùng chạy ra nghe tướng bảo:

- Dẫn xuống xưởng làm súng. Mọi người cùng đi, thấy phần nguội làm sắp xong, tướng mừng lắm. Việc làm khẩu súng hai nòng cho tướng Đinh Đức Thiện là việc làm cho Lâm Thanh ân hận mãi cho đến bây giờ với một chuyện không ngờ... Làm khẩu súng hai nòng cho tướng Thiện Lâm Thanh còn được cả vinh và nhục. Nhục là vì hôm ấy trời mưa phùn gió bấc Thanh đóng bộ vào, vác khẩu súng từ Đoàn hai ( nhà máy X25) sang X100 ở mãi cầu Diễn để làm khâu cuối cùng là nhuộm đen. Đi đến giữa Thủ đô thì người hắn nóng ran, bức bối. Lâm Thanh tụt ủng ra đi chân đất, cũng đã biết gỡ quân hàm bỏ túi cẩn thận rồi treo hai cái ủng lên hai đầu khẩu súng gánh tòong teng đi bộ giữa phố. Hắn vừa thấy thoải mái một tý thì kiểm soát quân nhân tút còi vây xung quanh. Người đi đường dừng lại xem cũng đông. Thế là Lâm Thanh được lên xe đi về trại giam Vĩnh Tuy của bộ tư lệnh Thủ đô. Chờ mãi không thấy Lâm Thanh lên. Có người bảo: Chú bộ đội vác khẩu súng hai nòng bị kiểm soát quân sự bắt rồi. Thế là tướng Thiện chửi um lên: Mẹ cha đứa nào lại dám bắt sĩ quan của tao rồi quay lại nói với giám đốc X100: “ các anh không biết phải làm gì à?”

Khoảng nửa tiếng sau cũng chiếc xe ấy của kiểm soát quân sự lại phải đưa Lâm Thanh cùng với khẩu súng hai nòng lên tận nơi để gặp tướng Thiện. Khẩu súng hoàn thành, tướng Thiện thưởng ngay cho Lâm Thanh cái phiếu mua một xe phượng hoàng Trung Quốc. Lại lần thứ hai anh được mua xe cung cấp, thật là vinh cho hắn. Về đến bờ đê Yên Phụ thì thấy tổ quân giới của cục đang trực trên đê nhằm ứng cứu bổ xung cho các đơn vị đang trực chiến đấu nếu như pháo cao sạ bị hỏng. Vừa lúc địch đánh vào trận địa sư 210, Lâm Thanh ngồi trên xe Sđờ ca phóng thẳng vào trận địa vừa bị đánh bom. Mùi thuốc súng khét lẹt lẫn khói bụi mù mịt trận địa nhưng anh vẫn thấy tại khẩu đội 5 đầu người chiến sĩ lọt thỏm trong chiếc mũ sắt rơi xuống mâm pháo mắt vẫn còn chệp chệp. Nòng pháo các khẩu đội nhuốm màu cà chua. Thấy đài chỉ huy không có ai Lâm Thanh hô to:


- Đại trưởng đâu?


- Ai ?


- Quân giới bộ đây, nòng pháo đã đỏ hết, đạn không vượt tầm, đánh làm sao. Đại trưởng đi đâu, về ngay đài chỉ huy. Bị máy bay địch đánh vào trận địa đại đội trưởng hoang mang đang mất bình tĩnh có cán bộ của cơ quan cấp trên làm chỗ dựa, nên buộc phải làm theo khẩu lệnh của Lâm Thanh. Lâm Thanh hô trước:


- Tổ cấp cứu khẩn trương làm công tác thương binh liệt sĩ. Đại trưởng cũng hô sau to hơn :


- Tổ cấp cứu khẩn trương làm công tác thương binh liệt sĩ.


- Hướng 34


- Hướng 34


- Hạ tầm


- Hạ tầm


- Thay nòng pháo


- Thay nòng pháo.


Thay nòng pháo xong, quân khí viên đại đội phục vụ cho quân giới bộ sửa pháo ngay tại trận địa.

Trả lại ngay biên chế vũ khí cho đơn vị trong lúc còn khét mùi thuốc súng.


Khi ống mạ của chân 12ly 7 được chuyển về lắp ghép và thao tác thử, mọi người đang vui mừng khao nhau lương khô thì được tin đồng chí Đinh Đức Thiện về kiểm tra. Lúc này đã là một giờ đêm. khi nhìn thấy nòng súng B40 đã được khoan, xoáy, doa, miết xong bị loại ra hàng đống, tiếc của, Ông hỏi:


- Tại sao lại phế phẩm nhiều thế?


- Báo cáo thủ trưởng không đạt yêu cầu về độ bóng ạ.

- Độ bóng bao nhiêu?


- Thưa độ bóng “tam giác tám”.


Mọi người đã bắt đầu sợ ông thủ trưởng nóng tính nhất nhì quân đội Nhưng không, ông lại gọi tất cả anh em kĩ thuật lại nói vui:


- Này, các cậu chỉ nặn tượng ra mà thờ. Mọi người còn đang ngơ ngác chưa hiểu vị tướng nói gì thì ông lại nói tiếp: Ông tượng bằng đất ấy, do người ta nặn ra có tay, chân, mắt, mũi hẳn hoi rồi đưa sơn son thiếp vàng, cắm râu đội mũ cho tượng rồi bỏ lên bàn thờ thắp hương khấn vái, vái mãi, tưởng tượng thiêng rồi quay ra lại sợ tượng có phải không nào?

Kĩ thuật chế tạo súng do các cậu đặt ra, (mới gọi là chế thử) không làm được lại quay ra sợ nó chứ gì? Không đạt tam giác 8 thì tam giác 7, tam giác 6 có được không? Ông lại xuống giọng nhỏ nhẹ giảng giải như quyết đoán: B40 là súng nòng trơn, nếu đạt được tam giác tám thì lý tưởng, súng không giật, còn tam giác bảy thì hơi giật một tý. Nhưng giật một tý còn hơn ngoài mặt trận chiến sĩ không có súng bắn.


Thấm nhuần chỉ đạo của cấp trên “CT2SGIẢI PHÓNG” đã kịp thời có mặt ở chiến trường hỗ trợ cho bộ đội ta đánh to thắng lớn.

Xe tướng thiện vừa đi ra thì chiếc xe com măng ca của cục lại vào đón Lâm Thanh đi. Trời đã rạng đông, ánh trăng bàng bạc đổ xuống dòng sông Cà Lồ nước cạn thấp thoáng đã nhìn thấy mấy người be be tát tát bắt cá. Ngồi trên xe Lâm Thanh mới biết nhiệm vụ đột xuất là đi giao nhiệm vụ làm pháo hoa cho các nhà máy.


Hàng năm cứ vào dịp tháng tám, ngành Quân giới lại vinh dự được chuẩn bị phaó hoa để bắn mừng Quốc Khánh. Mãi đến cuối tháng tám năm ấy (1969) theo rõi sức khỏe của Bác qua đài tiếng nói Việt Nam, mọi người nghĩ năm nay Bác ốm mệt nên Quốc Khánh chắc sẽ không bắn pháo hoa, vì không thấy trên giao nhiệm vụ như những năm trước. Nhưng đột nhiên gần đến ngày quốc khánh chúng tôi lại được lệnh chuẩn bị pháo hoa.


Đoàn cán bộ cục Quân Giới cầm lệnh sản xuất đặc biệt xuống các nhà máy quốc phòng để triển khai nhiệm vụ. Đầu tiên là Z125. Rời Z125 đêm hôm ấy, đoàn kỹ thuật còn phóng xe xuống các đơn vị đóng ở 5 huyện của ba tỉnh nữa để giao nhiệm vụ, để đôn đốc làm thuốc phóng, lắp ghép giàn phóng. Đến đâu bộ đội cũng làm việc quên ăn quên ngủ để rồi sản phẩm được giao đúng hạn cho bộ tổng tham mưu trước giờ G.


Sao lênh chuẩn bị pháo hoa năm nay lại triển khai chậm để vội vàng đến thế? Quốc khánh năm nay Bác Hồ đang ốm mệt cũng bắn pháo hoa ư? Nhiều cán bộ chiến sĩ thực hiện nhiệm vụ không khỏi băn khoăn. Nhưng có ai biết rằng những ngày đó, từ trên giường bệnh, Bác đã hỏi các đồng chí trung ương:


Các chú chuẩn bị pháo hoa cho ngày quốc khánh chưa?”

Về sau mọi người mới được biết Bác Hồ của chúng ta đã không muốn vì Bác ốm mà ngày Quốc khánh ở Thủ đô thiếu pháo hoa.

Tối 1/9 năm ấy, pháo hoa sáng rực cả bầu trời Hà Nội, pháo hoa soi sáng gương mặt từng người, từng dòng người trên khắp các nẻo đường, ngõ phố đang dồn về Hồ Gươm, về Ba Đình lịch sử.


Dưới ánh sáng của pháo hoa, mọi người vẫn nhận ra nét lo lắng của mọi người về tình trạng sức khỏe của Bác kính yêu.

Sau đợt công tác đột xuất Lâm Thanh lại về nhà máy, về với phòng thiết kế sửa chữa pháo cao sạ của mình nơi có Hạ Thúy và các bạn cùng làm việc. Nhưng dịp này Hạ Thúy đã được điều xuống làm kĩ thuật viên ở phân xưởng tổng lắp. gặp Hạ Thúy cô vừa cười vừa nói khoe ngay:


- Em sắp lấy chồng.


- Lấy ai?


- Anh

- Chết chết anh có vợ rồi, em biết.


- Vâng em biết nên mới đi lấy chồng. Người yêu em là bộ đội cơm Bắc, giặc Nam.


- Ừ, ừ anh mừng cho em.


- Anh biết không, đêm hôm ấy em ném mảnh giấy sang phòng anh nhưng anh ra ngoài, chú Dương lại nhặt được.


- Giấy gì?


- Tờ giấy em ghi: “Em sợ lắm”.


- Em sợ gì?


- Đấy, chú Dương biết chữ em viết nên cứ gặp riêng hỏi.


- Hỏi gì?


- Cũng hỏi như anh ấy, là “ Em sợ gì”. Và chú ấy cũng biết là tờ giấy ấy em ném cho anh vì phòng ấy chỉ có anh và chú Dương chả nhẽ em ném cho chú ấy. Nhưng chú ấy cũng kín lắm, giữ cả cho anh và cho em. Đám cưới Hạ Thúy được tổ chức sau đó gần một tháng , tuy vào ngày chủ nhật nhưng chú Dương tế nhị phân công Lâm Thanh ở nhà trực cho các bạn đi mừng Hạ Thúy lên xe hoa.

Tối ấy giám đốc Quyên hẹn Lâm Thanh đi xem phim của đội chiếu bóng huyện về phục vụ nhân dân địa phương tại sân kho HTX. Lúc ngồi chờ ông hỏi:


- Lâm Thanh cưới vợ được mấy năm rồi?


- Cám ơn thủ trưởng được hơn bốn năm


- Chưa có con


- Vâng


- Cô ấy thế nào?


- Nhà em khỏe mạnh, tươi tắn


- Có sốt ruột không?


- Chúng em còn trẻ ai cũng muốn phục vụ và phấn đấu.


- Thế là tốt, trời cũng giành thời gian, cơ hội cho các cậu nhưng chậm con nó cũng có nhiều nguyên nhân, có thể là vợ chồng không được thường xuyên gần nhau như người ta. Thời chiến mà, một vài năm mới được về một lần, có thể do cô ấy béo quá, cái vòng co dãn nó hơi sâu, kích hoạt sự khoái cảm chưa được đồng điệu. mình là lính phải dùng cách đánh của lính. Vượt qua cửa mở cậu phải cho quân luồn lách thật sâu, khi nó túm được quân mình lôi ra kéo vào xừn xựt thì dứt khoát là thắng.

- Vâng, sau đợt này thủ trưởng cho em tranh thủ nhé.

- Nhưng đánh phải thắng đấy.


Lâm Thanh không ngờ trong lúc chiến tranh công việc bộn bề đầu tắt mặt tối như vậy người thủ trưởng vẫn quan tâm đến cán bộ của mình . Không phải chuyện bù khú mà là câu chuyện khoa học của các nhà khoa học.


Suốt ngày Lâm Thanh lăn lộn với xưởng máy. Cứ 15 ngày cuối tháng thì hình như thức suốt đêm ngày với công nhân (chỉ tranh thủ ngủ lúc trưa được vài tiếng). Công việc là kiểm nghiệm khâu cuối cùng của tổng lắp, chỉ đạo kiểm tra đóng hòm các loại quân cụ, vũ khí và phụ tùng kèm theo thiếu thứ gì là bộ đội bó tay, quân giới không thể sửa chữa tại chỗ được. Trách nhiệm ấy lại thuộc về nơi sản xuất.


Súng B40 chỉ kiểm vết nứt sau khi bắn thử không kĩ, lúc đối mặt với xe tăng địch, người chiến sĩ bóp cò ùm một cái thì nòng súng có thể bị trải bằng ra như tờ giấy, lúc này thì cổ người vác súng bắn cũng không còn. Nếu không phải nòng nứt sẵn khi qua bắn thử cao áp thì ống thuốc sấy chưa đạt

tiêu chuẩn vì lò sấy chưa đạt tiêu chuẩn nhiệt độ. Một giờ đêm, anh đến thẳng khu sấy thuốc (ống phóng B40) hỏi:


- Ai sấy thuốc đây?


- Có tôi


- Cậu kiểm tra lại nhiệt độ của nước đi.


- Vâng vâng vâng vâng.


Người lính ngủ gật biết là có lỗi nên vâng rối rít rồi sách xô đi lấy than.

Việc gì Lâm Thanh cũng phải lấy sinh mạng người chiến sĩ ngoài mặt trận để làm mục tiêu giảng giải cho công nhân nhằm làm cho mọi người chấp hành quy trình, quy định kĩ thuật trong sản xuất. Một mẻ kim hỏa B40 hàng nghìn chiếc đã được mạ crôm đầu, nhuộm đen đuôi chỉ việc chuyển cho lắp ráp bị Lâm Thanh phát hiện không đạt độ cứng phải ngừng lại làm xôn xao cả nhà máy. Phó giám đốc kĩ thuật phải xuống tận buồng OTK để xem và kiểm tra lại. Trưởng phòng kĩ thuật, Thiết kế, kiểm nghiệm phân tích mẫu thép xác nhận không phải là thép 30XGESA như quy định mà vật tư cấp nhầm sang thép que hàn. Nhưng sáng hôm sau vẫn thấy hàng trăm hòm súng


B40 được xếp nghiêm chỉnh chỗ nhập kho chờ cho xe chuyển đi. Lâm Thanh hỏi Hạ Thúy nhân viên kĩ thuật xưởng tổng lắp khâu cuối cùng kiểm nghiệm để quyết định việc đóng hòm:


- Sao nhập được nhiều súng thế, kim hỏa lấy đâu ra?

- Anh ơi ! hòm không đấy.


- Sao làm thế?


- Ý kiến của trưởng phòng kế hoạch. Lâm Thanh nhảy lên cạy một hòm ra có súng thật liền nhảy xuống túm cổ áo trung úy trưởng phòng kế hoạch vừa đi tới hỏi:


- Ai cho nhập kho súng kim hỏa không đạt yêu cầu? Ai cho lắp? Định giết lính ngoài mặt trận à? Phản động à? Bị tấn công liên tiếp trung úy Hòa chỉ biết ớ ớ bảo Lâm Thanh:


- Bỏ ra nào. Rồi cầm tay Lâm Thanh cùng đi vào phòng trực ban điều độ nói:

- Lệnh thủ trưởng bảo nhập kho để báo cáo hoàn thành kế hoạch tháng. Chỉ có hàng vây quanh là có súng còn ở giữa là hòm không đấy.

- Báo cáo giả à? Báo cáo thì bằng giấy sao lại phải xếp hòm không vào giữa?

- Cậu thông cảm cho, ngày mai có đoàn kiểm tra xác định việc hoàn thành kế hoạch, nhà máy báo cáo rồi.


- Thì ra thế, rồi Lâm Thanh mặc cả với Hòa: “ Tôi lơ cho anh việc này nhưng anh phải điều thêm máy tiện gia công kim hỏa. Tôi hẹn mười bốn tiếng nữa phải có đủ kim hoả để lắp cho một nghìn khẩu súng. Thế là chiến dịch làm suốt ngày đêm lại lan đến cả phân xưởng cơ điện, phân xưởng dụng cụ đều phải làm thêm giờ để tiện kim hỏa. Anh cơ điện cậy mình là cái máy cái không nghe. Hòa viết nội thư đưa về cho giám đốc kí, nội dung.

Gửi các đồng chí quản đốc phân xưởng A1, A2 Hàng ngàn chiếc kim hỏa bị nhầm thép như các d/c đã biết, đẻ kịp tiến độ nhập súng cung cấp cho chiến trường (hiện xe lấy súng đang chờ) tôi đề nghị các đ/c tập trung máy tiện để làm kim hỏa theo điều độ của trưởng phòng kế hoạch.


Kí tên


Giám đốc


Giám đốc xem xong rút bút chữa chữ tôi đề nghị thành tôi “yêu cầu” rồi kí đến toạc cả giấy.

Hôm sau trông thấy Hòa trung úy ở cửa phòng điều độ Lâm Thanh gọi:


- Trung úy! cặp có gì mà to thế?


- Cặp không ấy mà, trung úy Hòa đùa lại.


- Cặp không như kiểu nhập kho hòm không hôm qua ấy à?


- May quá, hôm qua mưa to nước ngập bờ suối xe của đoàn kiểm tra không vào được thế là đi thẳng. mọi người cùng nói:


- Nay có về thì súng cũng đầy hòm rồi, không sợ họ phát hiện ra nhập kho giả, hòm không nữa phải không?


- Vậy thì tôi mới có cái này để thưởng cho anh em đây. Hòa mở cặp phát cho mỗi người một chiếc bánh mỳ.


... CÒN TIẾP



. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả chuyển từ NamĐịnh ngày 26.4.2018.
Trang Trước
Trang Tiếp Theo

TÁC PHẨM CỦA ĐỔNG NGỌC HOA TRONG VIỆT VĂN MỚI

VIỆT VĂN MỚI NEWVIETART NHỊP CẦU NỐI KẾT VĂN HỌC NGHỆ THUẬT VIỆT NAM TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC TỪ NĂM 2004